Người đàn bà với chín đứa con

Chị lấy anh chưa một ngày biết đến tiền, chưa một lần được may áo mới vì cái nghèo, cái khổ cứ bám riết lấy họ. Một gia đình nghèo bền bỉ, nghèo dai dẳng và nghèo trong bế tắc mà khi chúng tôi vào bản chỉ cần hỏi một chút thôi thì ai cũng biết và mọi người đều thở dài ngao ngán cho một gia đình nghèo.  

Chỉ cần một câu nói là chị đồng ý theo anh về làm dâu nhà họ Mã. Anh là Mã Văn Chì, chị là Hầu Thị Súa. Về làm dâu trên đất núi rừng Hà Quảng, Cao Bằng khi tuổi đời còn rất trẻ, chỉ khoảng 15 hay 16 tuổi, chị không nhớ rõ. Sống nhờ rừng, sống dựa núi, dựa sông; cái nghèo buộc đôi chân phải bước, phải trèo đèo lội suối theo những cánh rừng hun hút để mưu sinh. Rồi chẳng biết tự bao giờ, đôi vợ chồng trẻ ấy lưu lạc đến mảnh đất Võ Nhai – Thái Nguyên và dừng chân tại bản Lũng Cà, xã Thượng Nung. Thời gian cứ thế trôi đi cuốn theo hoài bão, ước mơ và cả tuổi xuân của con người.

Người nghèo thì ở đâu cũng có, nhà nghèo thì ở đâu cũng thấy, dù ở nông thôn hay thành thị thì cái nghèo vẫn tồn tại, vẫn quẩn quanh đâu đó. Lũng Cà, một bản vùng cao, cũng không thể cứu anh Chì chị Súa thoát nghèo. Mỗi sáng, sương tan là lúc mọi người trong bản lục tục trở dậy, người thì dắt trâu lên rừng thả, người thì vác cuốc ra ruộng làm cỏ ngô, người thì chuẩn bị dụng cụ cho một ngày làm lụng trên nương. Duy chỉ có một ngôi nhà nằm khuất trong một góc vắng và tách biệt so với những ngôi nhà khác là im lìm, không rục rịch, không tiếng động. Đó là ngôi nhà của Vàng. Vàng là tên đứa con gái cả của gia đình anh Chì, chị Súa. Ở đây người ta thường gọi tên đứa con cả làm mốc. Ít ai biết hết được tên của cả gia đình, họ thường gọi là mẹ Vàng, bố Vàng hay các em của Vàng… Vàng năm nay 25 tuổi, là đứa con gái chịu thương, chịu khó, ngoan ngoãn và rất hiền. Vàng là chị của tám đứa em trong đó có một đứa sắp sửa chào đời…

Những đứa trẻ ngây thơ, những đứa trẻ đáng ra phải được hưởng một cuộc sống no đủ, vô lo vô nghĩ, không ưu tư, không muộn phiền. Ấy vậy mà với nhà Vàng, chúng được sinh ra như một món nợ ở đời. Trên những khuôn mặt ngây thơ ấy đượm nét buồn hoang hoải, cái sợ sệt khi gặp người lạ, có hỏi cả ngày cũng chỉ trả lời bằng “có”, “không”, hoặc gật, hoặc lắc đầu, phải thật thân quen lắm mới nói với nhau được dăm ba câu mà thôi. Thứ chúng ăn không phải là cơm, là gạo mà là ngô xay ra rồi nấu lên sền sệt để qua bữa. Thứ chúng mặc là những bộ quần áo được cho đã sờn màu, rách rưới, lem nhem bùn đất… Trong số những đứa trẻ ấy, hiểu chuyện nhất là Vàng, vì Vàng là chị cả, rồi đến Vình, đến Pằng – những đứa anh, chị phải lo toan cho các em và lo cho cả mẹ của chúng. Cứ mỗi một đứa ra đời thì đứa trước lại phải bế bồng, chăm sóc đứa sau. Sau những giờ học ê a trên lớp chúng lại thay nhau bế em, thay nhau đi gánh nước. Những đôi vai gầy guộc của các em phải gồng lên để gánh những can nước ít nhất cũng phải 20 lít, vượt đồi mang về nhà. Lúc mới đến Lũng Cà, chúng tôi cứ thắc mắc tại sao ở thời đại này, ở bản làng vốn yên bình này lại có một gia đình như vậy? Cũng không ai biết rõ, cũng không ai biết từ đâu và từ bao giờ người đàn bà tên Súa ấy chỉ có thể cam chịu, chỉ có thể lần lượt sinh ra những đứa con trong nghèo túng khổ sở như vậy. Người chồng mà một thời chị quyết đi theo năm ấy lại sa vào con đường nghiện rượu. Rượu là ma men, rượu là nguyên nhân làm cho nhà chị đã nghèo lại thêm nghèo, những đứa con của chị đã buồn lại càng thêm tủi. Chúng thương mẹ nhưng lại càng không thể hận cha, dù cha cứ lang thang uống rượu về là nhà lại náo loạn. Chẳng ai biết anh đi đâu, làm gì, nhưng cứ rượu vào là lại đánh đuổi vợ con, rồi bắt chị sinh con cho anh. Những đứa con cứ thế ra đời mà không được nuôi nấng đầy đủ, những đứa con lần lượt ra đời để gồng gánh lấy nhau. Chị có chiếc má lúm rất duyên, làn da ngăm đen khỏe mạnh, có lẽ lúc còn trẻ chị cũng là hoa khôi của bản của làng, nhưng cứ hễ thấy người lạ là chị lại lảng tránh hoặc hỏi cũng không nói gì. Chúng tôi đã từng hỏi tại sao chị không kế hoạch, chị lặng lẽ nhìn xa xa vô định, tay bế cho đứa nhỏ ngủ, đôi chân trần lem luốc co cụm lại… rồi một giọt nước mắt rơi, lấy tay áo quệt ngang… lặng lẽ… nước mắt lại rơi. Bằng vốn tiếng Kinh ít ỏi, chị khẽ trả lời: “Không làm được”. Tôi gặng hỏi thì chị bảo: “Chồng không cho làm, làm là bị đánh, có lần đặt vòng nhưng bị bắt nằm ngửa rồi lấy ra cho bằng được mới thôi”. Rồi cứ thế chị lắc đầu, lấy vạt áo cũ kỹ gạt ngang dòng nước mắt, ôm đứa nhỏ vào lòng mà che đi, mà giấu đi nỗi lòng chua xót.

Cảnh nhà đã nghèo khó, gạo không có để ăn, rồi đây đứa con thứ chín của chị sinh ra sẽ ra sao, chín đôi vai gầy ấy, chín mảnh đời ấy liệu có được cuộc sống hơn chị hay lại tiếp tục oằn mình bồng bế những đứa em?

Huế Văn