VĂN HÓA

Truyện ngắn Vương Huy: ‘Kẻ bán sự tỉnh thức’

Nguyễn Hữu Hồng Minh • 23-09-2019 • Lượt xem: 10383
Truyện ngắn Vương Huy: ‘Kẻ bán sự tỉnh thức’

Nghệ thuật viết văn đến hôm nay vẫn còn tranh cãi “thế nào là một truyện ngắn hay?”. Một thông điệp gửi kèm hay đơn thuần một câu chuyện biết cách kể? Kẻ bán sự tỉnh thức đang ở đâu? Tôi cho rằng văn chương cần có một thông điệp. Đó là “hậu phẫu” hay lối thoát của chữ. Sau tất cả và trên tất cả là quan điểm, cái nhìn hay cách xử thế của nhà văn với thế giới biến cải, với chúng sinh nhân loại.

Tin, bài liên quan:

Truyện ngắn Vương Huy: ‘Một câu chuyện rừng rú’

Vương Huy và “Bóng thời gian ngả xuống”

Nhà văn nhìn từ phía sau lưng

Vương Huy viết không nhiều. Nhưng truyện ngắn của anh không giống ai. Nó lung linh như một “đóa hoa dại nở thoát lên từ kẽ đá hở hóc trên vỉa hè dơ dáy. Một con chó đứng nhìn mãi bông hoa dại ấy rồi bỗng dưng nó sủa toáng lên, vật vã, như không kiềm chế được cảm giác. Hay là nó thấy bông hoa cũng khó hiểu như tất cả những gì không thuộc giống loài của nó?”.

Và người nghệ sĩ bao giờ cũng đau đớn với sự bội bạc của tha nhân, của giấc mơ cánh diều bay lượn trên bầu trời xanh thắm và sợi dây mỏng mảnh trong bàn tay lông lá khốc liệt cơm áo. Y sẽ mang cánh diều thả về đâu? “Mọi sáng tạo, với tất cả sự lồng lộng cùng những ẩn ức sâu thẳm, đều bị đè bẹp dúm dưới chiếc mông to bự của cuộc sống thường nhật…”.

Chân dung Vương Huy trong trí nhớ - Vẽ bút điện tử - Họa sĩ Huỳnh Lê Nhật Tấn

Nhưng phải chiến thắng bản ngã, cho dù sự vi diệu ấy kết cục cũng như đường bay của cánh diều đẹp chới với bên vực thẳm, bởi như một định lý: “Dù sao thì con người phải sống tận lực tàn hơi. Mọi sự chối bỏ từ khước cõi đời đều là những cách thế yếu ớt. Con người phải sống hết sức mình để cuối cùng chính họ biết được họ sẽ cần gì và từ đó họ dám chối bỏ những gì!…”. Tôi gọi đây là những truyện ngắn tuổi trẻ và chỉ có tuổi trẻ mới viết được những truyện ngắn như thế!

Sau gần 20 năm mới giới thiệu được những truyện ngắn đã viết thời đôi mươi của mình trên DDVN, nhưng tôi tin, Vương Huy sẽ tiếp tục…

“Những con người của đau khổ khi đứng trước dòng sông thường nhìn mãi vào mặt nước như tìm lấy chiếc bóng của mình, như để con nước gột rửa cho mình những nỗi đau…”

Còn hơn thế! Bởi cuộc đời là dòng chảy! Bởi sự tỉnh thức luôn đập về một phía trong trái tim. Phía của khát vọng và lòng từ tâm, nhân ái!

Nào hãy tiếp tục cùng ngọn lửa văn chương đã bùng cháy trở lại nhé! Một cây bút trầm luân bởi tài hoa…

 

**             

Kẻ bán sự tỉnh thức

Truyện ngắn Vương Huy

1.

Hôm đó, tôi loạng choạng bước ra từ một quán rượu hăng xì, bẩn cáu, đầy những gương mặt lèm nhèm trông có vẻ ma quỷ. Quán rượu nằm khuất trong một con đường nhựa lở lói của thị trấn gồm nắng và bụi đỏ này. Chỉ cần bước thêm vài bước nữa là ngập vào vũng đèn đường vàng quạch nhưng ở đoạn đường ấy lại tối om om như từ khi hiện diện nó đã không biết đến ánh sáng là gì. Ngay khi đó, hắn bỗng nói với tôi về một công việc lạ lẫm, có phần tưng tửng rồ rồ. Hắn ngỏ ý muốn tôi phụ giúp hắn một tay trong khi tôi chờ một việc làm phù hợp với mình. Nếu tôi đồng ý thì sáng mai sẽ khởi hành. Tôi lơ đễnh nhìn bức tường lởm chởm vết tích thời gian, môi huýt sáo theo một điệu nhạc vọng ra từ quán cà phê gần đó. Hắn văng tục khi bước ngang mặt tôi và lầm bầm một câu gì mà tôi chỉ thoáng nghe được hai chữ: “…ơn Chúa …ơn Chúa”. Tôi nhìn sâu vào bóng tối trên con đường nheo nhóc đá và sực nhớ rằng hình như mình đang sống.

Hắn ở sát bên nhà tôi. Vậy tôi với hắn là láng giềng. Nhưng tôi không biết mặt hắn mà chỉ biết hắn qua giọng nói ồm ồm quen thuộc. Sáng hôm sau, chúng tôi lên đường. Tôi cũng không rõ sẽ đi về đâu. Nhưng chắc chắn là một chuyến đi dài. Một đóa hoa dại nở thoát lên từ kẽ đá hở hóc trên vỉa hè dơ dáy. Một con chó đứng nhìn mãi bông hoa dại ấy rồi bỗng dưng nó sủa toáng lên, vật vã, như không kiềm chế được cảm giác. Hay là nó thấy bông hoa cũng khó hiểu như tất cả những gì không thuộc giống loài của nó? Buổi sáng, thị trấn trông êm đềm. Nắng đẹp và mát vươn lên trên tháp nhọn nhà thờ xa xa. Một người con gái có gương mặt thanh thoát bỗng ngồi chửi thề vu vơ một mình. Một người mù chầm chậm gõ gậy dò đường và con chó lại sủa váng lên.

Đức tin - Tranh minh họa - Họa sĩ Huỳnh Lê Nhật Tấn

Hắn nói hắn bán sự tỉnh thức. Tôi cũng chẳng biết sự tỉnh thức đó là cái mẹ gì nên cũng ậm ừ cho qua chuyện. Rồi hắn lại nói: bao nhiêu kiến thức mà tôi tiếp thu được ở học đường chỉ là đồ cứt đái, nước dãi của thánh hiền, nhểu thêm lần nữa qua miệng bọn giáo ốm, những thứ đó chỉ đáng dành cho những kẻ yếu bóng vía. Tôi gật đầu ra vẻ đồng tình sâu sắc. Hắn bỗng chém tôi thêm nhát nữa: “Mầy biết chó gì. Bọn ăn học như chúng mầy chỉ giỏi gật. Gật và gật như cái máy. Chúng mầy toàn phường mê ngủ. Ăn nói như thánh mà bụng dạ lại đầy dao găm. Bọn hiểm hóc, chỉ chực ẩy kẻ khác xuống hố để giành miếng ăn rồi sau đó lại xin lỗi như ta đây là người có học, biết phép lịch sự”. Tôi lại gật. Hắn nhếch mép cười. À, thì ra hắn bán những thứ tôi cũng cần. Theo phụ hắn là một quyết định đúng. Mẹ kiếp!

Cầu phà rung giật rầm rầm đón những chiếc xe tải, xe khách và kẻ bộ hành. Người và xe, xe và xe, giành giật một lối đi. Cuộc sống như được nén đậm đặc ở đây. Những mặt người dơ bẩn và sạch sẽ lườm lườm nhau phát ớn, như sợ bất thần một cánh tay kế cận hích mình xuống lòng sông cuồn cuộn. Tôi len ra phía mạn phà, tựa lan can. Chiếc phà rì rì lìa bến. Bộ máy khởi động quạt xoáy tạt nước ùng ục vào cầu tàu. Những cuộn sóng gầm rít lăn lộn, nắm đầu nhau, è xuống. Bọt nước bay phả lên trùm khắp một góc trên cầu tàu. Tiếng người trộn với tiếng động cơ huỳnh huỵch. Một tay bảo vệ bến phà quay tít sợi dây cước chiếc cần câu máy và vút một cái, chiếc lưỡi câu cắm vào vùng xoáy nước, căng căng. Sợi cước long lanh níu vào chỗ vực sóng sủi trắng như bọt bia. Tôi còn kịp thấy gã giật hút cái cần câu và cười hể hả phô hai hàm răng ám khói. Một con cá vẩy bạc lấp lánh đã mắc nạn. Trong khi đó dòng sông vẫn trôi lừ lừ mang đi ánh sáng. Nó không biết mình vừa mất một mảnh đời.

2.

Buổi trưa khét nắng. Mặt đường nhựa táp hừng hực lên mặt chúng tôi từng luồng hơi nóng. Hắn phóng xe ào ào. Tôi không kịp lưu luyến một phong cảnh nào cả. Ngang chỗ có dãy lò gạch phủ nhiều bụi xám gợi lên cảm giác ngứa ngáy, khó chịu. Tôi nghĩ tôi và hắn cũng đang ở trong một lò gạch khổng lồ làm bằng không khí oi nồng này. Chúng tôi – hai viên gạch bị nung già – tâm hồn quắt khô lại thành một màu nâu gắt đáng sợ. Chúng tôi bị ném riêng ra một xó, thuộc hàng vật phế dụng, không được dự phần vào đời sống ngôi nhà tương lai. Khi xét thấy cần hoặc khi những thỏi gạch đạt tiêu chuẩn kia cạn kiệt thì chúng tôi được lôi đầu ra để những cánh tay thợ khéo đập cho rã nát thành nhiều mảnh và chêm lót vào những góc tăm tối trên bức tường phù thế. Những lúc đó, mang một hình thù vô nghĩa, chúng tôi được tham dự miên viễn với một tư cách rất mơ hồ, mơ hồ cũng tựa đầu óc bọn thợ thầy mối lái. Nói tóm lại, chúng tôi vô giá trị. Chỉ những kẻ được đúc và nung theo một khuôn phép, theo một lề luật khiên cưỡng đã được thống nhất trước thì mới nhận được một tí giá trị ban phát. Những kẻ đó ngoan ngoãn như bầy cừu và chúng có cảm tình bởi màu sắc mướt rượt của bộ lông đang mặc. Mà người ta nuôi cừu để lấy lông là chính. Thế mới đểu! Còn chúng tôi, những con cừu ghẻ lở bệnh tật, những viên gạch thô rám, chúng tôi phải tự tìm lấy chính mình nơi chính những vết thương, những cơn đau do kẻ khác gây ra vậy. Chúng tôi luôn là điềm gở, hình ảnh ghê tởm trong mắt đồng loại. Nên chúng tôi lấy hẳn điều đó làm chính giá trị cho sự hiện diện của mình.

Tôi và hắn dừng xe ở một ngã ba có con đường đất đỏ chạy hút vào cái màu xanh mệt mỏi của vườn tược ruộng đồng. Chúng tôi đi vào một ngôi làng bề ngoài có tất cả vẻ êm ả của thôn quê Nam bộ. Những tên đàn ông tậu những vẻ mặt lầm lầm thù hận nhìn chúng tôi từ đầu đến chân. Những ả đàn bà cong cớn, những đứa con gái rụt rè dâm đãng ngồi trên những bậc cửa nhìn ra ngoài nắng. Ngôi chùa Miên vô hồn nằm im phắc trong không gian trưa oi ả. Một con mương dài có màu nước xám ngoét như da kẻ nghiện uể oải trôi và phả hực mùi bùn. Bao trùm ngôi làng này là bụi và nắng. Bụi lấp những lùm cây vàng cháy. Bụi đóng lâu đời trên mái lá, mái tôn, mái ngói. Bụi bám trên mặt người. Bụi ôm khắp cái vẻ chán nản, mòn ruỗng, cũ kỹ của phong cảnh. Dường như chỉ có những cây thốt nốt sần sùi cứng cáp mọc đơn độc trên những cánh đồng ngun ngút là có vẻ mang một tí hồn. Có lẽ vì nó u uất và gợi nhớ. Nó cũng khó hiểu như một tôn giáo lạ. Một bầu trời cuộn quầng những đám mây có hình dáng màu sắc vằn vện, mây đen, mây vàng rực, mây đỏ ối cùng pha loạn vào nhau tạo thành một vùng hỗn mang, gây ám ảnh, như những bức tranh vẻ cảnh chiến địa thời xưa cổ. Một nhịp sống uể oải riu ríu diễn ra lặng thầm nhưng ẩn chứa những cuồng nộ riêng biệt. Trong bụi. Trong mắt nhau. Hình như không có sự sống thật sự nơi đây. Tất cả, từ cảnh vật cho đến con người, đều tồn tại theo một thói quen rỗng tuếch xuất phát từ bản năng thiên nhiên: sinh ra, học hành, lấy chồng lấy vợ, làm ăn sinh sống, dựng vợ gả chồng, phá sản và phất tới, đám giỗ đám quải những kẻ đã khuất và cuối cùng là chết. Chỉ có vậy. Một nơi không có chỗ cho sự phá cách và siêu vượt. Mọi sáng tạo, với tất cả sự lồng lộng cùng những ẩn ức sâu thẳm, đều bị đè bẹp dúm dưới chiếc mông to bự của cuộc sống thường nhật. Những tình cảm đơn thuần sẽ được khuếch trương ca tụng. Còn những tình cảm hướng tới chân lý cao vọi với tất cả đau đớn day dứt của nó đều bị khước từ tàn nhẫn, thậm chí còn bị ghê tởm và lánh xa. Sự thật ở đây là thế. Sự thật ở đây là bụi. Và bụi. Lòng người ở chốn nhơ nhuốc này là con nước có rất nhiều mùi bùn sình trộn lẫn phù sa của sự vô tình. Nếu anh không chịu gò lưng làm một thành phần nhỏ hẹp như mọi kẻ thì sẽ có một điều chắc chắn xảy đến cho anh: anh sẽ bị đạp bắn ra ngoài cuộc, như một người hủi phát hiện trong chiếu rượu. Họ sẽ làm ầm lên khi thấy có sự thích thú len lỏi trong hồn vì những việc hành hạ nhau như thế. Anh không tin à? Họ sẽ đẩy những người hủi ra khỏi cộng đồng của họ, phó mặc cho cái đói và sự cô đơn dưới bầu trời đầy sao và bóng tối. Nhưng sau đó họ sẽ nói mãi về tình thương xót cùng mối lân cảm của họ với kẻ bạc phước ấy thông qua những cái lưỡi bợn nhớt của bọn thầy tu, thông qua những cái miệng phàm ăn của bọn có quyền lực, và sau cùng tự dưng họ thấy chính tình cảm của họ cũng cao thượng nên họ tự ca tụng nó thật mùi mẫn bằng chiếc lưỡi của bọn văn thi sĩ thẽo thợt.

3.

Chỉ tại đường thì dài mà tôi chẳng có mục đích nào cả nên tôi mới lạc lối trong những suy tưởng vờ vịt kia. Nhưng mặc dù bị nhiều đòn tứa máu, tôi vẫn thầm tạ ơn cuộc sống này, nó đã cho tôi nhiều vị ngọt trong sự đắng đót. Trong bất cứ vẻ tàn nhẫn nào cũng ẩn chứa một tình người vướng mắc. Tôi đang nghĩ đến điều đó thì cánh tay của hắn vung lên, đầy lông lá. Hắn huơ nắm đấm dứ dứ về phía trước mặt. Tôi biết hắn muốn gây sự với con đường. Tôi chột dạ vì tiếng chửi thề khoái khẩu của hắn. Hắn chửi như để nhấm nháp câu cú và luôn tiện thử âm vực cái giọng nói khê thối của hắn. Dựng xe vào một bóng râm, hắn bảo tôi đến chỗ đám đông đang dòm dòm ngó ngó kia để chào hàng. Vậy là tôi phải bắt đầu cái nghề nghiệp bá vơ của mình một cách bị bắt buộc, trong thử thách. Tôi phải lên tiếng khi thật ra tôi không có gì để nói cả. Đành vậy. Tôi ngường ngượng tiến đến, lấy giọng ấm áp để nói cùng bọn người dơ dáng ấy về một thứ hàng hóa lạ lùng mà chúng tôi đem bán. Tác dụng của nó thì đã rõ rồi, chỉ có tôi là không được rõ. Họ im lặng một lúc lâu. Dường như họ muốn tìm hiểu tôi và mặt hàng. Bỗng, một lão đầu hói sạch, láng bóng, mặc một chiếc quần thụng lết bết, hất hàm nói: “Cút! Cút! Chúng tao chỉ cần cái ăn. Cái món tỉnh thức của mầy có ăn được không?”. Bọn con gái cười ré, những chiếc xà-rông có nhiều hoa văn âm u đơn điệu. Bọn đàn ông cười khùng khục. Tôi định nói một vài câu giả lả, bởi vì tôi biết, nếu quay đi tôi nhận rất nhiều những lời chửi rủa tục tĩu. Con người vốn thế mà. Họ luôn tìm cách đẩy lên cao trào thứ tình cảm tầm thường của mình và cái chóp đỉnh ấy là một bản năng đáng ghét. Họ sẽ chửi rủa khi họ cảm thấy bất lực hoặc thỏa mãn trước một sự việc – như thể họ sinh ra để sáng tạo những câu chửi tục cho nó gay gắt đời. Khi ấy vừa mở miệng tôi đã thấy mình lợm giọng: tôi đã nhận ngay một vốc cát nóng của bọn trẻ bụng ỏng eo. Miệng tôi đầy cát của sự thù hằn nghịch ngợm. Tha lỗi cho tôi. Tôi còn muốn nói rất nhiều nhưng tâm hồn tôi ngập đầy bụi và bụi. Lời nói của tôi, nếu có, sẽ là những lời ngọng nghịu u ơ nếu tôi còn cố gắng tìm cách hòa giải với cuộc đời, với con người.

Kẻ bán sự tỉnh thức - Tranh minh họa - Họa sĩ Huỳnh Lê Nhật Tấn

Có một điều tôi không tài nào hiểu được lý do, là tôi luôn đi tìm sự thất bại trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Mọi người đều cho điều đó là ngu ngốc. Nhưng có một điều họ không hề nghĩ rằng: mọi sự thất bại đều là tượng trưng của con người trên cõi thế. Nó vượt lên tất cả sự hóa giải, sự chối cãi và những nỗ lực. Nó không nhắm đến một điều gì rõ rệt. Nó là một quy định, một thứ kiềm chế của trật tự sống. Tất cả chúng ta đều thất bại trong mọi đường hướng của mình, dù đó là con đường sáng sủa hay tối tăm, nếu chúng ta chịu đi đến tận cùng một vấn đề nào đó. Nhưng đó lại là một thất bại đẹp đẽ. Cần phải sống một cách bi tráng. Bởi suy cho cùng, sự bi tráng ấy cũng chính là cách thức tồn tại bị quy định của con người trong vũ trụ.

4.

Chiếc xe chúng tôi lại bon bon trên con đường nhựa xám hun hút. Hắn luôn nhìn về phía trước. Cặp mắt trụi lơ của hắn luôn nhìn xoáy vào một điểm hư không. Dường như hắn lường trước mọi bất trắc với linh cảm của một con thú hoang, dù chúng tôi đang đi với tốc độ cao. Những giao tiếp của hắn và tôi đến tận giờ phần lớn vẫn là bằng sự im lặng. Hắn thường nhìn gắm vào tôi trong một nụ cười nhếch mép. Còn tôi luôn thận trọng và cân nhắc khi nhìn hắn, tôi muốn đo liều lượng những suy nghĩ của hắn. Tôi biết: hắn là một kẻ từng trải và do đó rất quỷ quyệt. Tuy nhiên đến giờ hắn vẫn chưa giở đòn gì cả. Tôi chờ đợi nó.

Buổi chiều xuống trên cánh đồng mênh mông trải rộng đến chân trời. Một màu xám đơn điệu buồn buồn như có vẻ hòa hợp với bóng dáng những người nông dân đang đi trên những bờ ruộng hẹp. Đôi chỗ có một vài hàng quán liêu xiêu, mệt mỏi, nhô ra như muốn giật lấy những kẻ đi đường. Thô tục và hiền lành, đó là cái vẻ thường xuyên xuất hiện trên mặt người và cảnh vật xứ này. Cô đơn và cay đắng, đó là tất cả tinh thần thường xuyên ẩn hiện trong lời nói của họ.

Trong tiếng xe nhẹ nhẹ, giọng hắn đều đều kể về một quãng đời cũ của hắn. Mái tóc thô cứng và dài của hắn quất vào mặt tôi rát rạt. Hắn sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu có ở một huyện cũng giàu có của miền Tây. Nhưng cuộc đời hắn rẽ ngoặt từ sau năm 1975: gia đình hắn bị tước sạch của cải và đất đai. Ba hắn lại thua kiện và ông ta chết trong sự uất hận. Thế là con đường học vấn của hắn bị tắc nghẽn. Hắn phải lao vào cuộc sống khắc nghiệt với tất cả quyết tâm gầy dựng lại cơ nghiệp của gia đình và hắn lại thất bại. Sau đó, hắn luôn nuôi trong đầu một thứ ánh sáng xa lạ của những miền đất hứa. Hắn tìm mọi cách vượt biên. Nhưng biển cả và con người thì vô tình. Biển cả và con người ném hắn trở lại và tặng cho hắn một cuộc sống đói khát ở những trại cải tạo. Ra khỏi trại, với một cái đầu lởm chởm, hắn bỏ đi đâu đó một thời gian. Và bây giờ, hắn rì rầm: “Tôi làm cái nghề này, ông bạn ạ. Nó chỉ đem lại cho tôi sự thất vọng nhưng nó là một nghề lạ, không phải ai cũng làm được. Tôi phải cố gắng giữ lấy nó. Cần phải can đảm đi hết cuộc đời của mình, phải không ông bạn?”. Tôi đồng ý với hắn ở điểm này: dù sao thì con người phải sống tận lực tàn hơi. Mọi sự chối bỏ từ khước cõi đời đều là những cách thế yếu ớt. Con người phải sống hết sức mình để cuối cùng chính họ biết được họ sẽ cần gì và từ đó họ dám chối bỏ những gì.

5.

Hắn nói với tôi về một địa danh lờ mờ mà chúng tôi phải đến. Nơi đó người ta sống trong tình lân ái một cách hồn nhiên, bên một đầm sen thơm ngát, và họ dùng món hàng của chúng tôi như một thứ thực phẩm chính mỗi ngày. Chúng tôi phải đến thị xã trước mặt trong buổi chiều này.

Những quầng sáng đèn lấp lánh phía trước. Chúng tôi ngoặt vào thị xã và tìm một quán ăn quen thuộc của hắn. Trong khi chúng tôi đang sì sụp một món canh nóng sốt thì lão già ấy vẫn ngồi lặng lẽ ở một góc, nhìn những con ruồi. Lão chun tay búng nhẹ vào một con ruồi đang đậu im trên mép bàn. Con ruồi bật ngửa, ngo ngoe mấy cẳng lên trời. Nó chưa chết. Nó ngắc ngoải. Lão mặc một chiếc sơ mi cộc tay, ủi thẳng nếp và bỏ vào trong một cái quần Jean nhăn nhúm bèo nhèo. Đầu lão chải hất ngược về phía sau để lộ một vầng trán rộng sạm nắng, với nhiều nếp nhăn gợn sóng. Trên mặt bàn gỗ tạp nơi lão đang ngồi, ánh đèn chiếu một vệt sáng xuyên qua chai rượu làm cho màu vàng ấy như chứa đựng một linh hồn. Bà chủ quán mập bự nói lại với tôi là ngày nào lão cũng đến đây gọi thức ăn và uống rượu. Tôi nhìn sang: ánh mắt của lão thật đầm ấm nhưng lại mở to và nhìn vào một cõi nào sâu hút. Đó là cái nhìn của một kẻ thấu suốt và chuẩn bị cho một điều gì xảy đến thật nhẹ nhàng nhưng dữ dội. Mùi rượu thơm nồng khi lão rót từ chai ra ly với một cử chỉ từ tốn. Mùi rượu gợi lại khoảng thời gian xưa cũ của tôi. Nháy mắt với hắn, tôi bước sang bàn bên và bắt chuyện với lão người lạ ấy. Lão có cách nói chuyện của một người ngu, vờ như không biết gì cả. Lão đồng ý mua một ít hàng của chúng tôi. Tôi hỏi lão về cái địa danh mà chúng tôi sẽ đến. Lão nói, chậm rãi như độc thoại: “Cái nơi mà cậu định tìm nó không nằm ở đâu cả trên mặt đất này. Nó nằm trong chính cậu. Cậu phải tìm cho ra nó bằng tất cả đầu óc và sự kiên nhẫn của cậu và cậu sẽ đánh mất nó mãi mãi. Nhưng đừng buồn. Bởi vì nếu cậu đã đến đó thì cậu sẽ không biết mình phải làm gì nữa. Cái thứ hàng này cũng chẳng cần thiết. Nó vô dụng, như tôi. Tôi đã đến đó và bây giờ tôi ngồi trong quán với một chai rượu. Cậu có thích uống rượu không?”. Rồi lão im thít, không nói lời nào nữa. Khi tôi hỏi lão cần lấy thứ hàng mà lão hứa mua không thì lão đã ngoẹo cổ sang một bên và thõng hai tay theo thành ghế. Tôi không biết lão ngủ hay là chết. Bà chủ quán nói cứ để im cho lão. Bà ta cũng chưa biết lão giở trò gì.

Khi ra khỏi quán, chúng tôi thỏa thuận một cách thức thật hiệu quả để đi đến nơi chúng tôi cần. Hắn đi trước để chào hàng ở vài nơi. Như vậy hắn dùng chiếc xe. Tôi phải đến một địa chỉ trong thị xã để giao hàng. Sau đó tôi sẽ qua sông để đến điểm hẹn. Tôi cho rằng cách đó cũng tiện lợi cho cả hắn và tôi. Như thế mỗi thằng sẽ tự do chuồn khỏi công việc khi thấy không còn hứng thú. Tôi càng thích hơn sự phân công lao động này: nó cho tôi quyền được đơn độc ở một nơi lạ lẫm. Hắn ném cho tôi một gói thuốc và rú ga. Tôi châm thuốc, nhìn hút theo con đường đen thẫm. Tôi phải toan tính cho mình một chỗ dung thân trong đêm tối. Ban đêm, mặt người nhìn có vẻ thú vật hơn. Nó phơi tất cả sự lồi lõm và ma mãnh. Tôi xốc túi hàng lên, bước đi. Tôi không muốn nhìn chiếc bóng mình. Tôi muốn biết con đường này chạy về đâu. Tôi cố định vị mình trong bao la và ngoắt ngoéo.

6.

Đó là một cái quán cà phê dựng nhô ra mặt sông rộng lớn. Nơi triền sông này cách đây vài năm là một ngôi chợ tấp nập nhưng tất cả đã sụp hẳn vào lòng sông cuồn cuộn. Dòng nước xanh xám nhìn trên mặt có vẻ rất hiền hòa ấy luôn ẩn chứa trong ngực nó những điều phẫn nộ đục ngầu. Chỉ cần con người vi phạm luật thiên nhiên là nó sẽ chồm lên, kéo thốc và nhấn chìm tất cả vào chiếc dạ dày sâu tối tàn bạo của nó. Nó là một con sông ngun ngút mù mù, luôn lầm lì trôi và xem thường tất cả. Dường như nó chỉ cần tới biển. Quán cà phê làm toàn bằng ván gỗ sần sùi, trông như một con chó sói khum xuống uống nước ở lòng sông lì lợm ấy. Chỉ có vài ba ông già và dăm ba tên học sinh trốn học đến ngồi trầm ở đó.

Tiếng thức tỉnh của con chim tiên tri - Tranh minh họa - Họa sĩ Huỳnh Lê Nhật Tấn

Buổi tối quán thưa khách. Khi tôi đến, cô chủ quán đi vắng. Tôi tìm ra một góc phía ngoài mặt sông, đốt thuốc, nhìn vết lở tàn khốc của bờ sông. Tôi liên tưởng đến một tiếng ầm dữ dội và mọi vật mọi người đổ ụp vào lòng sông bạo ngược. Tôi cảm thấy cái thế chông chênh của mình trên bờ này, trong quán. Tôi suy nghĩ về sự bền vững mà con người thiết lập trên mặt đất với rất nhiều kiên trì và thách thức. Nó có như việc xe cát của những con dã tràng hay không? Mà nơi đây đâu có dã tràng, chỉ có những con còng gió rụt rè bí hiểm trong những cái tổ hang lầy lội. Những con còng thì không biết thách thức với biển cả mà nó tìm cách tồn tại hòa điệu với sông ngòi đầm rạch. Sự trú ngụ của nó như một hình thức an nghỉ giữa dòng trôi lặng lờ mà kinh khiếp. Những con còng cũng tuyệt vời như những con dã tràng, tất nhiên là trong chiều hướng xác lập sự tồn vong của riêng giống loài của nó. Tôi bắt chuyện với một anh thanh niên đang ngồi ngây trong quán. Anh ta nói anh ta cũng đang chờ cô gái ấy. Nhưng sau cùng, dường như hắn ta không chịu được sự im lặng của tôi, hắn bỏ ra về một cách đột ngột không chào hỏi, sau vài ba cái ngáp vặt. Bóng hắn lầm lũi bước lên dốc đường như một con gà ốm tìm về chuồng lúc nhập nhoạng. Tôi phải ngồi lại với im lặng hun hút và tiếng vỗ bờ ì oạp của dòng sông màu tối.

Có tiếng va chạm của ly muỗng ở bàn sau lưng, tôi quay lại. Cô ta đó à? Một nhan sắc như được nhúng trong bóng tối và ánh sáng đầu tiên của ngày. Trong bộ đồ màu xám nhẫn nại, cô gái ấy có tất cả vẻ của một con thú biết tự kiềm chế và giấu đi hình dáng của mình trong cây cỏ rừng rậm. Cô ta đã bước vào quán như một bóng ma. Cô ta chào tôi bằng một nụ cười câm lặng nhưng để lộ một ánh sáng lạ của tia nắng trong mưa. Nó quái lên một cái rồi tắt ngấm, lùi sâu vào một cõi khó nắm bắt như một đức tin cao vời trong ánh nến tâm linh. Nó mang một vẻ nhục dục hoang dã chìm lẫn vào một thứ thanh tịnh siêu thoát của tôn giáo. Dường như tôi nghe được tiếng gầm rú của bờ sông sụp lở trong đêm khuya khoắt cách đây vài năm. Cô ta hỏi tại sao tôi đi bán thứ hàng hóa khắc nghiệt bá vơ này. Cô ta nói ở tuổi tôi người ta còn chìm đắm trong ảo vọng lắm. Mà cũng không phải. Tất cả chìm đắm. Cô ta đã chứng kiến sự đắm chìm tuyệt vọng đó rất nhiều lần ở khúc sông này. Rồi cô ta lại nói: đoạn sông ấy cũng chỉ là cái ngoặc nhỏ trong dòng trôi rộng lớn và dài đằng đẵng kia, nhưng sao mà con người lại dễ đắm đuối một cách an phận như vậy. Cô ta vuốt nhẹ lên vai tôi và lại cười, cái nụ cười ấy…                        Tôi sợ câu chuyện sẽ trôi dần vào chỗ mất phương hướng và chìm lạc vào sâu hút như sự chìm đắm mà cô ta vừa kể. Tôi hỏi, để lái câu chuyện về công việc thực tế: “Tôi sẽ giao cho cô tất cả những thứ mà tôi mang theo. Tất cả. Nhưng còn giá cả thì cô đã thỏa thuận như thế nào, cái này tôi không rõ”. Cô ta nhìn vào tôi một cách thất thần và lại cười nụ cười ấy. Cô ta nói, giọng lạc trong ngực, rằng: “Được. Anh đi theo tôi. Tôi sẽ trả cho anh”. Lúc ấy, sau lưng tôi, ánh đèn xanh đắm của quán hắt lên một thứ ánh sáng ma mị. Tôi bước theo cô ta vào một gian buồng tạm bợ bên hông quán. Trong bóng tối nhờ nhờ, cô ta đã là người nguyên thủy. Cô ta trút quần áo bằng cách nào mà nhanh thế. Thịt da của cô ta ánh lên mềm mại trong bóng tối. Mớ tóc đen mun chảy như suối xuống vùng ngực lâng lâng. Thân hình cô ta rực lên một thứ ánh sáng lôi cuốn và như được nhấn chìm trong mùi hương cháy thoảng. Tất cả tôi như bị phủ chụp trong một hấp lực sôi cuộn. Những ngón tay nhỏ mềm của cô ta đã đi dần vào tôi một cách ân cần, như chiếm giữ. Chúng tôi bấy giờ là một. Tôi đã quên đi sự buồn tẻ của đời mình. Tôi chỉ còn là một nỗ lực vượt thốc liên tục để chạm đến sự tuyệt đối mà tôi tìm thấy trong sự chứa đựng cả hai này. Tôi cũng biết đó là một cách mà tôi phải nhận lãnh, trong ma nghiệt, trong hân hoan tột đỉnh vỡ òa. Tôi không còn biết đang ở đâu trong vũ trụ. Tôi đã là một vũ trụ. Và cô ta cũng thế - một vũ trụ bảo bọc và ở trong tôi. Khi ấy những tấm ván thì quá nhẫn nại và dòng sông cuồng sóng vỗ dưới lưng chúng tôi.   

Cô ta cứ thế, trong thân hình mềm mướt của một con nai, vén chiếc rèm cửa buồng và bước ra ngoài quán. Những cử động mang nét tươi tắn lạ lùng. Tôi còn nằm nán lại. Đêm cũng đã sâu. Tôi lại đốt thuốc, lần này tôi không còn suy nghĩ được gì nữa.

Khi tôi bước ra ngoài, trong ánh đèn xanh, cô ta nằm dài trên chiếc võng và khẽ hích chân đung đưa nhè nhẹ. Mớ tóc đen mượt chảy dài xuống mặt ván. Thân hình thon thắt một cách đau đớn của cô ta vẫn còn bừng ánh lửa của sự cuồng nhiệt – tựa như một đóa hoa đang tìm cách phát tiết những cánh mỏng mảnh của nó vào không trung sâu thẳm để khoe bày một nốt nhụy ngân nga. Cô ta nói với theo tôi, giọng rất mơ hồ: “Anh nên đem theo cả túi hàng của anh đi. Tôi đã nhận nó rồi, anh thấy đấy, tôi đã nhận nó rồi”. Cô ta im lặng, gương mặt sáng vội lên một nụ cười như lùi sâu vào cõi nào tăm tối và hun hút của xứ hồn lạnh lẽo. Vẫn nụ cười ấy…

Tôi lại xốc gói hàng lên lưng, bước ra khỏi quán và khép hờ cánh cửa bằng gỗ lại. Nhưng cánh cửa như tự nó khép lấy chứ không phải do bàn tay tôi. Nó tự khép lấy rất nhẹ nhàng như một lời từ tạ. Qua khe hở của hai cánh cửa chưa ăn hẳn vào nhau, tôi còn kịp nhìn vói về phía chiếc võng nhưng tôi không còn thấy bóng dáng cô gái nằm trên đó nữa. Chiếc võng vẫn đung đưa. Một con bướm màu trắng từ khe cửa đập cánh bay vụt ngang mặt tôi và mất hút vào đêm tối đong đưa. Sao đôi cánh khép mở của nó lại giống những động tác của cô ta lúc cùng tôi như vậy? Mùi hương cháy thoảng lẩn khuất đâu đây.

Bây giờ tôi mới hiểu tại sao hắn cố tình tách rời công việc làm đôi và giao tôi cái địa chỉ ma quái này. Hắn đã giở đòn. Tuy nhiên, nó chẳng thấm tháp gì tôi. Tôi đã nhận được một quà tặng. Đó là một linh hồn. Và tôi đã hiểu được khúc sông tăm tối này hơn ai hết.

7.

Tôi lần tìm trở lại hướng quốc lộ - con đường chính đáng nhất trong cái xứ eo óc này. Như vậy là tôi sẽ lần lại những dấu vết của chính mình. Những dấu chân tôi đã buông tuồng trên cỏ, luồn lách trong những ngõ hẹp, hay dẫm mạnh trên những con đường thênh thang. Việc tìm lại nó không phải là chuyện dễ. Hơn nữa, tôi cũng không thích nhìn lại dấu chân xiêu vẹo hay cứng cáp của mình. Nó đã là nó. Mọi sự hồi cố đều đáng thương như nhau. Tôi chỉ có một thực tại biến dịch liên tục và tuần hoàn vô tận này để mà bước vào nó. Không chú tâm lắm vào những trì níu chung quanh, tôi luôn độc hành vào trong chính tôi, để tìm hiểu con đường trước mặt. Điều đó nghe có vẻ nghịch lý. Nhưng tôi đã quen và cảm thấy chỉ thích hợp với cách giải quyết phương hướng như thế này. Tôi đặt túi hàng xuống mặt đất khô cằn bụi và châm thêm một điếu thuốc Tôi phả khói vàng từng dòng lên bầu trời tối đen choi chói những vì sao. Tôi thấy tội nghiệp cho những vì sao. Chúng sáng một cách tức bực và có vẻ như giả vờ. Chúng tranh sáng với nhau để cuối cùng, một cách tổng quát, chúng bị ngập ngụa trong màu tối đặc của nền trời. Tôi búng mạnh tàn thuốc xuống mặt đất khô, đốm thuốc nẩy lên như phản đối rồi nằm tóe những mảnh tro lửa vào trong bụi. Có vậy mới được chứ. Tôi quyết định rẽ tắt sang một lối khác để tìm đường về quốc lộ. Nhưng để theo lối này phải băng qua một trảng cát lớn nằm lạc lõng trong vùng đất chỉ toàn phù sa nhão nhợt này. Từ đó tôi sẽ đến bến phà sớm hơn, tôi sẽ qua sông trong tiếng động ấm áp của máy móc con người.

Đó là một gò thoai thoải và bao rộng đổ dài xuống phía mịt mù xa. Gai và cỏ nhám đâm vào chân tôi đau nhói. Cát chồm lên bàn chân tôi như muốn cắn ngập nó, muốn lưu giữ nó lại mãi mãi nơi sự u tịch hanh hao này. Tôi rút từng bước chân khỏi cát và dẫm mạnh nó lên phía trước. Bóng tôi lẫn trong đêm sâu ngụt ngụt. Tôi lắng nghe tiếng chân mình trong hoang vắng. Nó như một sự truy tìm vô vọng một điều gì đó nhưng lại được đặt trong niềm tin lớn bởi ở những bước chân. Nó như một sự quấy động, để tự an ủi mình và để xóa đi cái vẻ đơn độc lầm lũi của mình. Tiếng dòng sông rì rạt âm âm ở xa xa. Không có một bóng cây, tôi đỡ sợ. Không có một bóng trăng, tôi đỡ sợ. Mọi vật đều nằm im phắc ở chỗ của nó. Mọi vật ở đây là cát. Và tôi cũng là một hạt cát dịch động bơ vơ trong toàn thể cát. Tôi nhớ lại đêm tôi nằm trên một bờ biển xa lạ.Tôi nhìn xoắn vào từng đợt sóng của biển thâm u và cuối cùng tôi lại sợ nó. Tôi la lớn tiếng cho bớt hoang vu. Con sóng lại chồm lên sát tôi hơn nữa. Và tôi đã bỏ chạy. Xa biển. Tôi vùi vào cát và nghe sự chở che của nó trên thịt da tôi. Thế nhưng linh hồn thảng thốt của tôi thì không còn cái gì, không có cái gì có thể bảo bọc bao dung. Nó luôn lạnh giá trước biển và cõi người.

Con quốc lộ đầm ấm kia kìa! Những chiếc xe tải đang rì rầm u u trên đó! Cõi người kia kìa! Tôi đã thoát ra cái buốt bỏng băng lạnh của một vùng đất chết. Tôi thanh thản bước lên mép đường. Nhựa và mùi khói xe níu lại những hoại tưởng của tôi.

8.

Bến phà vẫn sáng choang những ánh đèn. Dăm ba người đi lại trong ánh sáng mê muội đó như những con thiêu thân mang mặt người. Họ có hạnh phúc trong hơi ấm cộng đồng không? Họ đâu biết tôi, rất cô độc, đã băng qua một vùng đất tinh thần dễ lún sâu mãi mãi. Gương mặt ngái ngủ của tay kiểm soát vé phà ngẩng phắt lên nhìn tôi rồi hắn phẩy tay tỏ ý cho tôi qua. Tôi ném lại gói thuốc vào ngực hắn. Hắn giật mình, vồ chụp lấy, gật gật cái đầu to tướng. Lại phà. Tôi đã ngán ngẩm những chuyến phà như thế này. Nhưng tôi thích thú khi nhìn những bọt sóng dưới thân tàu. Ở đây mọi con sông đều rộng lớn.

Tôi là người cuối cùng của chuyến phà ấy. Chuyến phà chỉ toàn xe tải chở gạo thóc. Khi tôi bước lên, tôi đã thấy một người đàn ông đứng trước ở đấy rồi, đằng sau đuôi chiếc phà. Gã tựa vào lan can, nhìn những chiếc xe xanh xám nuối đuôi nhau trong lòng phà. Gương mặt của gã gầy đen và choắt lại ở cằm. Gã mặc bộ đồ tả tơi, chiếc quần lõng thõng ở phần đầu gối trở xuống. Gã nhìn tôi một cách thờ ơ rồi quay lại, hướng mặt xuống lòng sông. Những con người của đau khổ khi đứng trước dòng sông thường nhìn mãi vào mặt nước như tìm lấy chiếc bóng của mình, như để con nước gột rửa cho mình những nỗi đau. Cây nạng gỗ ở một bên thân của gã gõ lập cập vào sàn tàu như tìm nơi chắc chắn, vững chãi cho cái thế đứng liêu xiêu của gã. Gió quất ngược vào món tóc bết dính của gã. Gã chỉ nhìn xuống dòng nước và hút thuốc. Khói thuốc không thành ngụm mà cứ tan lạc một cách mệt mỏi trong hơi gió. Gã có cái vẻ âm thầm của một người không thiết sống, một người yêu cuộc sống.

Tôi cảm thấy sức nặng của gói hàng trên vai. Tôi đặt túi hàng xuống sàn tàu ẩm ướt. Con phà quét một luồng mắt đèn và xoay lưng rời bến. Bọt nước lại réo điên dại dưới thân con tàu. Sóng nước lại cuộn quầng đập phủ lên cầu tàu. Hai luồng sáng của mắt đèn dọi cứng thẳng vào mặt sông. Bây giờ tôi mới nhận ra túi hàng của mình thật vô dụng. Nó đã theo tôi suốt mà chẳng để làm gì. Tôi cũng vậy, tôi cũng như nó. Nó là chiếc bóng của tôi và tôi là chiếc bóng của nó.

Lúc đầu gã còn nhìn theo những gợn nước và cái hút mù khói sóng xa xa. Hai tay gã vuốt nhẹ lên song sắt đen xỉn trên boong. Nhưng sau đó, bất chợt gương mặt gã cau sắt lại và gã phun nước bọt xuống gợn sóng nước đùa đùa bên mạn phà. Rồi im lặng nhìn đâu đâu vào bóng tối. Thân hình gã bất động, khô quắt như một xác chết. Hình như gã thoát xác.

Tôi nhìn xuống túi hàng đầy dấu mồ hôi của mình, tôi ngán ngẩm nó. Dùng mũi chân, tôi đẩy nó rơi tõm xuống lòng sông tối ám. Nó nổi trên mặt nước, nó không chịu chìm. Gã đàn ông quay phắt sang nhìn tôi. Bất thần gã lao xuống mặt sông ngun ngút đầy sự ẩn dấu những khát vọng con người trong cái vẻ đe nẹt hiền lành của nó. Hai cánh tay gã chới với theo túi hàng. Một dề lục bình lớn, rậm rịt, lừ đừ trôi ngang mắt tôi. Con phà vẫn im lặng làm công việc của mình trong tiếng máy rì rì. Chiếc nạng gỗ lăn vào chiếc bánh một xe tải, nằm im.

Rùng! Rùng! Con phà cập bến. Gã bảo vệ kéo sợi dây chão móc vào hai cột sắt trên cầu phà và dòng xe lăn bánh chầm chậm xuống dốc, qua tấm sắt uốn lượn gác lên bệ xi-măng của bến. Tôi bước xuống sau cùng. Gã bảo vệ nghiêng nhìn, qua vai tôi, vào lòng phà. Gã hất hàm hỏi: “Cái ông hồi nãy đâu?”. Tôi chỉ xuống mặt sông mù mịt. Gã cười. Gã nghĩ tôi nói đùa.

Tôi bước lên một quầng sáng đèn khác. Những con thiêu thân bay vất vơ trước mũi tôi. Phía sau lưng tôi, dòng sông vẫn lừ lừ trôi mang đi tất cả. Nó chưa hề luyến tiếc một điều gì.

 

Viết xong năm 1998.

V.H