VĂN HÓA

Truyện ngắn Vương Huy: ‘Một câu chuyện rừng rú’

Nguyễn Hữu Hồng Minh • 01-09-2019 • Lượt xem: 3146
Truyện ngắn Vương Huy: ‘Một câu chuyện rừng rú’

Trên DDVN cách đây không lâu chúng tôi đã có giới thiệu thơ “Vương Huy - Bóng thời gian ngả xuống” gây nhiều chú ý trong văn giới. Sau đó, chúng tôi bất ngờ nhận được e-mail truyện ngắn “Một câu chuyện rừng rú” do một người bạn cũ đã cất công gõ lại từ bản thảo cũ của Vương Huy gửi cho.

Tin, bài liên quan:

Vương Huy và “Bóng thời gian ngả xuống”

Nhà văn nhìn từ phía sau lưng

Trần Vũ - phép lạ của văn chương (Kỳ 1)

Khi Nguyễn Huy Thiệp nhảy đầm

Được xem là một gương mặt thơ triển vọng của thế hệ thứ hai, văn chương Sài Gòn, tính từ 1975, Vương Huy là cây bút ý thức sự viết. Viết, với anh không chỉ là sự bày tỏ mà còn là một cuộc tìm kiếm riết róng, khắt khe, thậm chí tàn bạo hướng tới cái đẹp và bảo vệ cái đẹp. Tuy dấu vết ảnh hưởng rơi rớt đây đó từ Kawabata Yasunari, Rainer Maria Rilke và đặc biệt Albert Camus nhưng Vương Huy cũng tạo dựng được “nội quan” văn chương riêng biệt bằng tài năng của mình.

Chân dung Vương Huy (Ảnh tác giả gửi cho DDVN)

Rất tiếc, tất cả đã sụp đổ vì sau đó nhiều biến cố bất ngờ đã đến với anh và gia đình. Bản thân Huy sau khi tốt nghiệp Đại học Sư Phạm về dạy học ở quê nhà Cai Lậy cũng chỉ được một thời gian ngắn đã bị buộc phải nghỉ với lý do không đủ sức khỏe.

Gần hết các sáng tác của Vương Huy được viết rải rác trong giai đoạn là sinh viên rời quê nhà, lên trọ học ở Sài Gòn. Đó cũng là thời kỳ đẹp nhất mà cũng ngắn ngủi nhất của cuộc đời anh. Ngoài bản thảo tập thơ 30 bài có nhan đề “Lửa sâu cõi đá” do bạn bè xuất bản, anh có viết hai truyện ngắn trên bản thảo chép tay.

Một câu chuyện rừng rú - Tranh Huỳnh Lê Nhật Tấn

Sau lần giới thiệu trước, chúng tôi bất ngờ nhận được e-mail truyện ngắn “Một câu chuyện rừng rú” do một người bạn cũ đã cất công gõ lại từ bản thảo cũ của Vương Huy gửi cho.

DDVN trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc truyện ngắn này. Truyện của tuổi hai mươi nhưng không là hai mươi tuổi.                             

 

Một câu chuyện rừng rú

Vương Huy

Càng ngày tôi càng mịt mùng phương hướng. Tôi không còn định vị được cõi đời. Cái nơi tôi đang đứng đây là đâu? Mặt đất cứ âm âm u u những tiếng gì không rõ. Bầu trời như không hề có, chỉ một khoảng tối đen đầy những gai nhọn sáng. Đến bây giờ tôi mới cảm thấy chuyến đi này thật thiếu mùi vị. Một chuyến đào thoát không thành nên vô tình nó khoan thêm sâu vào lòng thực tại rối rắm mà tôi vốn sẵn đầy. Rất tràn đầy và trống rỗng.     

Tôi thất nghiệp, hay nói đúng hơn, tôi là một tên cà bông vô tích sự. Cuộc sống không còn chỗ cho tôi xông vào chia phần. Bởi vì mọi nỗ lực của tôi không nhằm vào một công việc thiết thực mang tính nghề nghiệp nào cả. Cầm món tiền hời thằng bạn thân đưa xài tạm, nhưng chỉ sau một ly cà phê, ít điếu thuốc thơm và vài bài hát có giai điệu đẹp, là tôi thấy mình rất tự tin. Như việc cầm giật món tiền ấy là một chuyện đương nhiên. Thì đương nhiên thôi. Nếu tôi không nhận cái lòng thành ấy thì hóa ra tôi là một kẻ thiếu thành thật với bản thân, hoặc giả là một tên có nhiều tham vọng trí trá mà cũng đầy ắp mặc cảm tự ti. Những thứ ấy tôi đâu có thiếu nên hầu như tôi xem nó là một chuyện không cần thiết. Tôi sống bằng nó. Tôi không còn lưu tâm đến nó. Bởi từ lâu tôi đã coi mình như một thành phần không thể chối cãi của cái cuộc sống đầy rẫy nghịch lý và những điều phù phiếm này. Và, cũng chính vì thế, tôi thấy chỉ có mỗi một việc cần phải làm là phải trầm sâu xuống sự nghịch lý ấy và trở thành đầu mối túc mục của chính nó. Duy nhất, đó là điều mà tôi cuồng vọng.      

Màu xanh - Tranh Huỳnh Lê Nhật Tấn

Thì thôi vậy. Nhận đây rồi trả đấy mấy hồi. Nhận chỗ này rồi cũng hoàn hết cho chỗ kia. Không ai giữ gì được cho riêng mình, cả sự sống lẫn nỗi chết. Thì tôi ra ngoắc một chuyến xe tình cờ, chen vào giữa đám người mê ngủ, đủ giọng nói, cho nó ấm cúng đời. Thì xuôi về đâu cũng được, ngược về đâu chẳng xong. Vậy là tôi đến một nơi không có một ai chờ đợi. Càng thích chứ sao. Cuối cùng, cái xứ rừng rú ấy đón tôi cũng thật nồng nhiệt, bằng bụi đỏ đường trường, bằng tiếng chửi thề lơ lớ của mấy tay dân tộc thiểu số ra kiếm sống mạn Kinh. Cứ thế trong nhiều ngày, tôi lang thang hết nơi này đến chỗ nọ. Bạ đâu ăn đó, bạ đâu uống đó. Miễn sao thoát khỏi những cái mặt người lịch sự và những gương mặt đường nhẵn nhụi.                                       

****     

Vây bủa xung quanh miền đất cỗi cằn này là những dãy đồi màu xanh lơ và những chỏm núi màu xanh đặc. Mặt trời lên. Mặt trời xuống. Mỗi chiều, có những tiếng thú kêu nghe sao mà đau đớn và khoái hoạt. Tôi đã sống đời sống của một kẻ không còn thiết trò chơi kiếm tìm, một kẻ ngây đực ra nhìn mãi một cụm mây lơ láo cũng như chính hắn. Đời sống rong tảo. Tôi không xa lánh mọi người. Dường như tôi chỉ muốn xa lánh chính tôi để phục hiện hình bóng mình trong toàn vẹn – một hình dáng đã bị đánh cắp bởi một bàn tay vô tín ngưỡng suy đồi, là chính tôi. Mặt đất cứ âm âm u u những tiếng gì không rõ. Có phải đó chính là tiếng thở trút sau cùng của một cõi thế đã tồn hoạt từ rất lâu, rất nhạt mờ?       

Tiếng vọng - Tranh Huỳnh Lê Nhật Tấn

Đêm đã xuống trong tôi nên tôi nghe tay chân mình diệu vợi hơn. Tôi hít sâu và cố giữ hơi thở mình trong lồng ngực. Tôi sợ nó vuột ra là biến mất hẳn. Tôi đã cố gắng lãng quên rất nhiều chuyện. Để sống. Để tiếp tục sống cùng người. Chỉ có vậy thôi. Mà cũng khó. Bởi lẽ tôi còn trí nhớ. Cái trí nhớ thăm thẳm nó đeo dính tôi như chiếc bóng, như thân phận. Nó cắn nát tôi hằng đêm. Gương mặt tôi luôn lờ phờ, nhạt nhẽo, trông chán ngán, dù tuổi tôi còn rất trẻ. Nhiều lúc nhìn một con vật giẫy chết, tôi ước ao thứ hạnh phúc tột vời đó. Tôi nhận cảm rõ một điều: cái chết tù mù tờ mờ như thế là một giải thoát du khoái đầy đột ngột. Nó phá tung mọi ràng buộc để con người nhập hẳn vào vô cùng. Nó gợi cho tôi một cõi miền tươi tắn nhưng cũng thật vô cố. Bấy giờ, tĩnh lặng, tôi ngắm nhìn mặt hồ hoang dại gợn sóng. Không một ai. Im lặng tĩnh tuyệt. Chờ đợi. Chờ đợi…      

Ngay lúc đó, từ phía bên kia hồ nước bỗng lắc lư di động một đoàn những khối đen đen rầm giảo hoạt. Một bầy thú kiếm ăn khuya? Những thân cây tìm đất sống? Ma rừng? Khi ấy tôi là một đầm lầy cho những mối hoài nghi và những ý tưởng mê man tìm đến ngụp lặn, sặc sụa một giọng cười đen nhẻm. Tôi vội bật dậy, tìm một nơi ẩn nấp. Một bụi cây dại cao ngang ngực! Tôi luồn nhẹ vào, nín thở, căng tai, cố thấu hiểu cái dòng kỳ lạ ấy. Chúng đi có vẻ rất hào hứng mà lại thờ ơ, rất man dã mà đầy kính cẩn. Ối trời! Chỉ là một đoàn người, một đoàn người không hơn kém. Những chiếc xuổng thô, những nhánh cây khô lua khua phù trợ cho nhịp điệu mơ hồ của chúng. Chúng đi lần về nơi tôi nằm khi nãy. Những gương mặt của sự thù hằn và tuyệt vọng – một vẻ đặc trưng của con người, không phải thú vật. Tôi thở nhẹ.     

Trong bóng đêm thẫm đặc, tôi lờ mờ thấy được thân hình rạc mỏi của họ do ánh phản chiếu từ mặt hồ. Không, dường như tôi thấy được linh hồn của họ, u uất, tìm lối hòa điệu cùng vời vợi. Không nghe họ nói những gì. Nhưng sau đó họ tản dần ra. Những người đàn bà dường như chỉ rì rầm một câu lạnh lẽo ma quái và lặp đi lặp lại như nhai một miếng da thuộc khô cứng. Tất cả bọn họ đều trần như nhộng trong bóng tối của họ và có những thân hình thon thắt oan khốc, phơi bày dục tính như xua đuổi. Còn bọn đàn ông thì cứ tụm lại với nhau hì hục đào xới. Những gương mặt cúi gằm nhẫn nại như đang tìm quên trong công việc khổ sai của mình. Chốc chốc, họ lại ngoái nhìn về những tòa ngực dâng cao và cái thung lung eo hẹp đắm đuối từ những vùng bụng đổ dồn xuống, rậm xanh, tươi ngon. Khoảng một giờ sau, bọn đàn ông lại dãn ra. Một người trong số họ nhặt những viên đá nhẵn gần đó, chẹt mạnh chúng vào nhau, nhiều lần. Một tia lửa sáng yếu ớt phụt ra. Họ cố nuôi giữ nó bằng những chiếc lá khô. Khi đó tôi nhìn chăm vào chỗ họ đào xới vừa xong. Kỳ lạ! Một cái hố sâu chừng một mét rưỡi, có chiều dài nhỉnh hơn thân người nằm một chút. Cái hố đất mở ra tựa hồ một chiếc miệng tối đen ngoạm vào bóng đêm rừng rú. Mùi đất sâu, mùi lá mục chờn vờn bay đến tận nơi tôi ẩn nấp, phả thơm ngây ngây mùi sự trở về thăm thẳm – mùi sự chết. Trong khi ấy, những người đàn bà lom khom chất quanh miệng hố những mẩu cây khô vặn vẹo, chỉ chừa một lối vừa đủ để vào. Rồi họ gom tất cả những thứ còn sót lại thành đống, ở xa hơn. Họ rì rầm một giọng xa lạ, mang mang tựa hồ những ảo thanh khi giấc ngủ sắp đến. Sau đó, một người đàn ông đến châm lửa vào cả hai đống củi. Ánh lửa loạng choạng một lúc lâu, cuối cùng đứng vững trên những thân cây khô. Nó phừng phực, phừng phực như muốn đòi quyền sống, như một cuộc khởi nghĩa tự phát. Một đứa con nít màu đỏ sẫm hung tợn!                                                 

****  

Tôi vốn có mối nhiệt tâm với lửa từ thuở chập chững biết đi. Hồi nhỏ, tôi là một đứa trẻ tò mò, luôn bị mê hoặc bởi bất kỳ màu đỏ nào ở gần. Hễ một vật gì có màu đỏ hay một màu gần như thế là tôi sẽ lần tới chạm cho kỳ được. Nhiều lúc còn cho nó vào miệng nhai cắn rất ngon lành. Một vết tích nhớ đời còn lưu lại trong lòng tay tôi: một con mắt lửa. Vâng, một vết sẹo tròn xoe ngơ ngác nằm chắn giữa những đường chỉ tay nát vụn. Đó là năm tôi lên ba tuổi, một hôm tôi không chịu ăn uống chi cả, luôn nhả ra những và cơm mẹ đút cho. Mà chỉ khóc oe oe đòi cho được cái ánh lửa đẹp đẽ mà mẹ nhóm lên. Dỗ dành hoài không nín, mẹ tôi bồng tôi lại gần bếp lửa và nói ngọt: “Nín đi, nín đi, mẹ cho”. Ngọn lửa hấp háy. Đang nằm gọn trong cánh tay mẹ, tôi bỗng chồm tới chụp ngay một hòn than còn nồng, định đưa luôn vào miệng. Kết quả là lửa gởi một dấu ấn ma nghiệt lên làn da non sữa của tôi, nó kéo lòng tay của tôi tụ về một điểm ngây ngất và lơ láo. Từ đó về sau, tôi luôn dè dặt với lửa hay những gì có màu đỏ nóng. Tôi luôn lảng xa và đứng nhìn nó với vẻ hãi sợ ẩn nỗi thèm khát không đâu.

Hơn khi nào hết, cảm giác đó lại rừng rực trong tôi lúc bấy giờ. Ngồi thu người trong nơi ẩn nấp tạm thời, tôi mở tung tất cả các giác quan để vừng lửa kia ào ạt vào hồn cho thỏa cơn khát quái đản. Bên đống lửa bập bùng lách tách nổ như gọi mời, bọn người kia chuyền từng vùa nước sóng sánh múc từ một cái hũ lớn cạnh đó, uống ừng ực. Cứ sau mỗi hớp, họ lại dang cả hai tay lên trời, miệng gừ gừ những tiếng trầm trầm như tiếng những con thú tranh ăn. Chừng như chất nước thơm nồng kia đã ngấm, họ lần lượt đứng dậy, uể oải nhảy múa quanh chiếc hố vừa đào xong. Những điệu múa lúc đầu còn nặng nhọc, rời rạc nhưng về sau càng gấp gáp hơn linh diệu hơn, đẹp một cách mê muội và bí hiểm. Họ câm lặng nhảy múa. Đống lửa cũng nhảy nhót rồ dại hừng hừng theo những cánh tay, cặp chân. Hố đất rùng rùng há hốc chiếc miệng nham nhở như muốn nuốt tươi những bàn chân sần sùi như đang chới với, chới với. Cứ sau hai ba bước dậm, đầu họ đang cúi chúc xuống bỗng bất thần ngẩng phắt lên theo hướng hai cánh tay dang rộng về trời. Như khẩn cầu, như tuyệt vọng. Điệu vũ cắt tiết. Trong mắt họ hằn học bóng dáng tử thần. Những cặp vú sậm màu của bọn đàn bà hong vào hơi lửa nóng đang căng lên hết độ chín của nó. Những cặp đùi rần rật. Những cái mông xoay lắc man dại. Rồi từng người, từng người một cay đắng bước lặng qua lối đi còn để trống giữa vòng lửa, nhào xuống huyệt, như đứa con hoang được trở về căn nhà xưa cũ. Hai bàn tay họ cào hớt hãi vào đất cát hai bên thành hố, thoa lên khắp người. Rồi nhọc mỏi bước lên nhập lại bầy. Trong khi đó, bầy người vẫn nhảy múa thác loạn. Mặt hồ loang loáng sóng. Rừng cây trun trút gió. Đêm thì cứ sâu mãi, sâu mãi vào một điểm trống không hút tận.                                       

****     

Chừng đẫm mệt, họ lại kéo nhau quây quần bên một cái hũ lớn khác. Từng vùa nước lại được chuyền đi lặng lẽ. Chất nước thoang thoảng mùi hăng hắc đăng đắng. Họ uống, uống, vẻ mặt đau đớn lạ. Sau khi những vùa nước đã chuyền đi khắp lượt, một gã đàn ông vét phần còn lại trong vò, cầm đi lừ đừ đến bên miệng hố. Những tiếng cười hay tiếng nấc sằng sặc vụt lên, tôi không rõ, nhưng dường như đó là âm thanh chứa đựng cả hai. Lúc bước qua cửa lửa, hắn hất một ít nước vào rìa đám lửa tươi. Phần lửa ngay nơi vệt nước ăn vào bỗng úa màu phụt tắt. Hắn ngập ngừng rồi ném cả gáo nước xuống hố. Liền đó, hắn bứt ngay một mẩu tượng nhỏ xíu được chạm khắc bằng gỗ đang đeo lòng thòng trên cổ, ném vội theo. Hắn rú lên một tiếng kinh hãi, hoảng hốt chạy ùa về nơi đám người đang đứng sững lặng. Như chỉ chờ có thế, bầy người lại quay vòng cuồng nộ. Nhưng người đàn ông ôm chầm lấy những người đàn bà kế cận. Những bờ môi mở đón những bờ môi. Những tấm thân trần mở đón những tấm thân trần. Như một bầy rắn mê dại cuộn quấn lấy nhau, họ lăn lộn cuồng thú trên đất cát. Những tiếng rú xanh chát. Những cặp đùi ong ong hé mở vòm trời khao khát. Những vực sâu tối đen ngong ngóng lên chờ đón. Đất đá lên tiếng trùng trùng câm nín. Những khuôn ngực đầy ắp cong lên như dâng hiến, như đòi hỏi ở vùng trời tối tăm một sự hủy diệt. Lửa nổ giòn soi rõ từng động tác lung linh tự do và hòa hợp thần thánh của họ. Gương mặt những người đàn bà đau đớn. Gương mặt những người đàn ông khờ dại muôn đời. Từng cặp, từng cặp như chuồi sâu vào một giấc ngủ vĩnh hằng trong tư thế hoàn mỹ, những pho tượng dục tình luôn có vẻ huyền hoặc bởi sự dính khắng huyền bí. Cứ thế, trong vẻ toàn mãn, bầy người chết dần vào nhau, chết mạnh, chết tuyệt đối vào nhau, trong liều độc dược đã ngấm trọn.      

Đến lúc ấy, tôi mới thật sự hoảng sợ. Chỉ còn mình tôi giữa bầy xác chết. Núi rừng thì đen thẫm, hun hút, đầy đe dọa. Đống lửa kinh hoàng vẫn phừng phừng cháy soi rõ thảm cảnh lần sau cuối rồi lần lần bò quanh bãi người, khép kín lại, cháy rú xuống mặt hồ cau sóng. Lửa nhai ngấu những thân người. Mùi xác người cháy bay lên, bay lên mãi, lấp kín cả vùng trời mới vài giờ trước đó còn âm ám. Thơm lựng. Dạt dào. Tôi bật dậy, cứ thế chạy điên cuồng về một hướng cũng mịt mù, xa đám cháy, xa đám cháy. Chân tôi đau nhói. Miệng tôi khô đặc khói và cát. Tôi muốn la lớn nhưng lưỡi của tôi đã mất hút trong cổ họng. Và cũng chẳng có ai, chẳng còn ai nghe tôi. Lẻ lạc. Tôi chạy, chạy. Dường như linh hồn tôi cũng đang bắt cháy. Tôi chạy, chạy. Không rõ về đâu. Chỉ còn tôi và con đường đêm mù mù.                                             

****

Tôi tỉnh dậy khi nghe toàn thân rướm lạnh, cái lành lạnh của một buổi mai sắp đến. Tiếng chim kêu nắng nhỏ. Vài ba giọt sương rơi khua trên lá những âm thanh bình thản. Thì ra chỗ tôi nhào ngã bất tỉnh nhân sự là một khoảng đất bằng phẳng dưới chân một ngọn núi mây mù mù. Không biết được bên kia núi là gì? Làng mạc quê nhà hay đất cát cằn khô, núi rừng tiếp nối? Tôi lết cái tinh thần rã rời bầm dập của mình về phía có những thân cây cao mọc lum khum như cố che dấu một điều gì cợt nhã. Một cái hang đá! Sợ mình hoa mắt, tôi nhìn kỹ thêm nhiều lượt, đúng: một cái hang đá nằm hơi lùi sâu vào bụng núi. Chân núi choãi ra xanh thắm. Một màu xám lạnh lởm chởm của đá gọi kêu. Phần nữa, tôi cũng thật sự đuối sức, tôi cần một nơi để tránh cái lạnh nơi đây, để tránh những hàm răng dã thú và tránh cả cái hình dáng đớn đắng của núi.      

Minh hoạ truyện ngắn "Một câu chuyện rừng rú" của họa sĩ Huỳnh Lê Nhật Tấn

Bước dần vào hang, chân tôi dẫm phải những vỏ cây được đẽo gọt theo những hình thù vô nghĩa và những vật dụng tàn phế rải rác khắp hang. Tất cả như đang lên tiếng rằng: đã từng có một sự sống câm lặng nhức nhối và chìm đắm trong tuyệt vọng nơi đây. Bằng vào một thứ linh cảm mơ hồ, tôi bước lần về nách hang bên trái. Trong bóng tối ẩm giá, một hình thể nhỏ nhắn đang ngọ nguậy bùng nhùng với vẻ hồn nhiên đơn độc. Tôi bước gần hơn, nhìn xoáy vào: một hài nhi trần truồng nằm gọn trong đống cỏ khô và lá cây, đang ê a thầm thì với không khí buôn buốt của hang. Trên vách đá, một giọt nước lăn dài. Nước mắt của đá. Tôi sững người, vẫn còn, còn đấy, một linh hồn tươi nguyên của hang thẳm, của rừng độc. Tôi nhích dần, khom cái mặt hốc hác của mình xuống như để thằng bé được nhìn rõ hơn, như muốn lưu dấu tích vào trí nhớ non nớt của nó bóng dáng tàn tạ của một con người. Biết đâu, chỉ một lát nữa thôi, nó vĩnh viễn không nhìn thấy một gương mặt đồng loại nào nữa hoặc giả là nó trở thành miếng mồi thơm cho những con thú quý hiếm. Tôi thì thầm với nó: “Mầy là đứa con của sự chết. Mầy phải nhen lại sự sống đầu ở đây, ngốc ạ!”. Thằng bé ngo ngoe cánh tay xinh xắn mũm mĩm của nó chạm nhẹ lên ổ tóc bù rối của tôi, như thể đang ban phép màu. Bỗng dưng tôi thấy mình nhỏ bé, đơn độc trong đáy mắt xanh thẳm trong veo của nó. Tôi bỗng quỳ xuống sụp lạy. Vâng, đúng vậy, tôi đã sụp lạy bằng một sự thôi thúc mãnh liệt nào đó của bản năng con người. Khi đó, tôi sực nghe ấm nóng cạnh gót chân, tôi cúi xuống nhìn: một hòn than nồng đượm trong lớp tro kề bên ổ cỏ. Tôi bật cười: Ô hay là tình người! Tôi nhìn thằng bé lần nữa rồi quày quả bước ra. Chừng vài bước, không hiểu sao, tôi quay lại, co chân đá mạnh hòn than ấy ra xa. Màu đỏ hồng lăn lông lốc trên nền đá lạnh.                                             

****     

Khi về lại cái thành phố có tuổi đời tươi trẻ này, tôi không biết mình phải làm gì nữa. Đám bạn bè cũ của tôi thấy tôi lang thang suốt đêm ngoài đường hay ngồi gục trong quán rượu đông người và ruồi nhặng nên bọn họ cố lôi tôi về phòng trọ của họ. Cho ăn uống, tắm táp. Sau này nghe bọn chúng kể lại, lúc mới về mấy hôm, tôi cứ ngồi nhìn trân trối cái sẹo lửa giữa lòng tay, ai hỏi gì cũng nghiến răng cười nghệch. Sáng, đứa phải đến trường ốc, đứa phải phơi lưng kiếm tiền, chúng đành chốt cửa khóa ngoài nhốt tôi trong căn phòng trọ mốc meo. Chiều về, chúng thấy khắp tường nhà sách vở đầy những hình vẽ chi chi không rõ, mà hình như là một ngọn lửa nhưng tôi lại vẽ giống mũi dao nhọn sắc. Đêm, chúng phải quẳng tôi lên sau xe, rồ máy, chở tới những quán cà phê xanh đỏ tím hồng, chở đến những đám đông nhốn nháo mà tôi cũng chẳng rõ họ ồn ào như thế để làm gì. Đôi lúc chúng còn chở tôi đến những căn nhà có những người con gái lạ hoắc, mặt đầy lên son và phấn và bia. Đến đâu, tôi cũng xin một mảnh giấy, ngồi cặm cụi vẽ hoài một ngọn lửa, một ngọn lửa. Bọn họ chúi vào xem, cười ồ thích thú.      

Bây giờ thì tôi hoàn toàn tỉnh táo. Nhưng vẫn thất nghiệp. Mỗi khi kiếm được ít tiền là tôi tìm đến quán cà phê quen thuộc, kêu một cái rum, vài điếu thuốc và đòi chủ quán mở cho bằng được bài hát mà tôi thích: The end of the word. Cứ thế, một ngày. Chỉ còn giọng mệt mỏi của người ca sĩ hát bài hát tuyệt vời ấy mới có thể ru tôi quên. Chỉ còn giọng ca đuối lả ấy mới vẽ lại được một ánh lửa mơ hồ âm ỉ trong trí nhớ của tôi đã phủ đầy một lớp bụi tro. Vâng, một ngọn lửa vẫn leo lét như nỗi ám ảnh khôn nguôi về sự sống và cái bí ẩn vô nghĩa rộng lớn của cõi đời.                                                              

Viết xong năm 1998.

V.H