Đong đưa nón Việt

Hình ảnh chiếc nón với tà áo dài phất phơ từ lâu đã trở thành biểu tượng của Việt Nam trong con mắt bạn bè thế giới. Nó được xem là điểm nhấn thể hiện nét đẹp thùy mị kín đáo của người phụ nữ Việt Nam.

 Nón là một loại trang phục của người Việt. Già trẻ, nam nữ, giàu nghèo, quý tộc, bình dân đều đội nón, vì thế từ lâu nón đã trở thành biểu tượng cho đất nước và con người Việt Nam.

Tương truyền, nguồn gốc của chiếc nón gắn với câu chuyện kể về một nữ thần cao lớn. Bà luôn đội trên đầu bốn chiếc lá hình tròn. Bất cứ nơi nào nữ thần xuất hiện, những đám mây chợt tan biến, thời tiết trở nên thuận lợi. Sau khi dạy dân trồng lúa và các loại cây lương thực, nữ thần biến mất. Người Việt tưởng nhớ công ơn đã cố gắng tạo ra một kiểu dáng che đầu tương tự như của nữ thần bằng cách xâu các lá cọ lại với nhau và nó được gọi là nón.

Nón được khâu bằng sợi móc, một loại sợi rất dai lấy từ bẹ cây móc, là một loại cọ hoang trong rừng sâu (gọi là nón mọc), hay khâu bằng sợi tóc tơ dứa dại (nón gai). Người ta chuốt từng thanh tre mảnh, nhỏ và dẻo dai uốn thành vòng tròn có đường kính to nhỏ khác nhau để tạo thành những vành nón. Vành to nhất có đường kính rộng khoảng 40 cm,  vành tiếp theo nhỏ dần và vành nhỏ nhất tròn bằng đồng xu. Mỗi chiếc nón có 16 vành tròn, đều lợp 3 lớp: hai lớp lá non ở ngoài và một lớp giữa. Lớp giữa thay đổi tùy loại: nón gai và nón móc trắng lớp giữa làm bằng lá già, nón móc đen làm bằng mo nang. Nón tốt lá phải trắng xanh, sống nhỏ và mịn, kỹ thuật ghép lá (từ chóp đến chân nón) kín đều, đưa lên ánh sáng không thấy chỗ trống, mái nón thẳng đều và không có ngấn ở giữa, vành nón phải chắc.

Mỗi thời kỳ, nón lại có hình dáng, kích thước khác nhau. Dù nón có nhiều loại, song nét đặc thù chung của nó là rộng vành (để chống nóng) và có mái dốc (để thoát nước nhanh, che mưa). Nhìn chung, nón của người dân miền biển khác nón của người dân ở  đồng bằng, những người làm việc với vị trí xã hội khác nhau đều đội nón có kiểu dáng, chất liệu không giống nhau. Cùng là chiếc nón nhưng được phân biệt bằng các tên gọi khác nhau tùy theo vùng miền, chất liệu, hình dáng và người sử dụng:

Nón rơm: Nón làm bằng cọng rơm ép cứng.

Nón gõ: Nón làm bằng tre ghép cho lính hồi xưa.

Nón dấu: Nón có chóp nhọn của lính thú thời xưa. 

Nón thúng: Nón lá tròn bầu giống cái thúng. 

Nón khua: Còn gọi là viên đẩu – nón của người hầu các quan xưa.

Nón chảo: Nón mo tròn trông như cái chảo úp.

Nón cạp: Còn gọi là nón xuân lôi đại dành cho người có tang. 

Nón lá sen: Còn gọi là nón liên diệp dành cho trẻ nhỏ.

Nón mặt lờ: Dành cho nhà sư và thầy tu.

Nón Gò Găng hay nón ngựa: Sản xuất ở Bình Định, làm bằng lá dứa, đội khi cưỡi ngựa. 

Nón quai thao: Nón thường dùng trong lễ hội, dây nón là quai thao.

Nón bài thơ: Nón lá trắng và mỏng ở Huế, lồng hình ảnh hay một vài câu thơ.

Nón sơn: Bên trong làm bằng lá, bên ngoài dùng lá tre tết lại rồi phết bằng sơn được nhiều nho sĩ và thương nhân đội.

Theo thời gian, nón ngày càng trở nên thiết yếu trong cuộc sống của người Việt. Người nông dân ra đồng, người lính ra chiến trận, các bà các mẹ đi chợ, đi làm, thậm chí quan lại, các công chúa bà hoàng trong cung cấm đều sử dụng nón. Chiếc nón là một phần cuộc sống của người Việt với nhiều chức năng, là vật dụng che nắng che mưa, trở thành cái quạt khi nóng bức, lúc mỏi thì lót xuống ngồi, khi có gió thì che diêm mà hút thuốc, muốn ngủ thì úp lên mặt để che ruồi muỗi, dùng làm đồ đựng khi cần và đặc biệt là phụ kiện trang sức cho các cô gái khi cần làm duyên.

 Ngoài chức năng ứng phó với môi trường tự nhiên, chiếc nón còn hướng tới mục đích làm đẹp phù hợp với cảm quan thẩm mỹ của người Việt. Dưới vành nón, đôi mắt, nụ cười, những sợi tóc mai, cái gáy trắng ngần của các cô gái dường như được tôn thêm nét duyên dáng, kín đáo mà không kém phần quyến rũ.

Ra đường nghiêng nón cười cười, 

Như hoa mới nở, như người trong tranh.

Hoặc:

Ai làm chiếc nón quai thao

 Để anh thương nhớ ra vào không nguôi.

Hình ảnh người phụ nữ Việt dịu dàng, thanh thoát trong chiếc áo dài cùng chiếc nón lá nghiêng nghiêng e ấp, hai thứ phục trang ấy như dòng nước uốn lượn theo cơ thể mềm mại của người phụ nữ vừa gợi tình, vừa làm duyên kín đáo, là hình ảnh đẹp và đầy gợi cảm được nhiều người ngợi ca, đi vào nhiều tác phẩm văn học. Tính biểu tượng này ngày càng được nâng cao, theo chân nhiều người Việt đến mọi miền Tổ quốc, xuất hiện trong nhiều cuộc thi sắc đẹp và nhiều chương trình truyền hình. Đặc biệt, gần như 100% du khách nước ngoài đều cố tìm mua cho được nón lá Việt Nam mang về làm kỷ niệm.

Dẫu ngày nay, nón không còn được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày như xưa nhưng hình ảnh chiếc nón lá trắng tinh khôi vẫn là một biểu tượng về văn hóa trang phục của người Việt suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm.

Thảo Minh