VĂN HÓA

Đèo Hải Vân - Thiên hạ đệ nhất hùng quan

Bài và ảnh: Hà Thành • 05-01-2023 • Lượt xem: 309
Đèo Hải Vân - Thiên hạ đệ nhất hùng quan

Con đường thiên lý Bắc - Nam xưa, và là quốc lộ 1A ngày nay đi suốt chiều dài đất nước, qua bao nhiêu vùng địa lý, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp; nhưng có lẽ không có nơi nào hùng vĩ, ấn tượng như đèo Hải Vân. Đèo Hải Vân là một địa danh đặc biệt, không chỉ là cảnh sắc mà còn mang đậm dấu ấn lịch sử.

Thiên hạ đệ nhất hùng quan

Đèo Hải Vân (còn gọi là đèo Mây vì quanh năm đỉnh đèo có mây che phủ) là con đèo chạy trên dãy núi Bạch Mã (nhánh của dãy Trường Sơn đâm ngang ra biển, cũng gọi là núi Hải Vân). Đèo chạy quanh co cắt ngang dãy núi, có độ dài 20km, cao trung bình 500m so với mực nước biển; là ranh giới giữa tỉnh Thừa Thiên Huế ở phía bắc và thành phố Đà Nẵng ở phía nam.

Theo sử sách, trước năm 1306, vùng đất có đèo Hải Vân thuộc về hai châu Ô, Rí của vương quốc Chăm Pa. Năm 1306, vua Chăm Pa là Chế Mân cắt hai châu này làm sính lễ để cưới công chúa Huyền Trân nhà Trần (con vua Trần Nhân Tông); thì con đèo này là ranh giới giữa Đại Việt và Chăm Pa. Khoảng một thế kỷ sau, dưới thời Hồ, năm 1402; vua Hồ Hán Thương sai tướng Đỗ Mãn đem quân đánh Chăm Pa, quân Chăm Pa thua và vua Chăm phải cắt đất Chiêm Động và Cổ Lũy để cầu hòa. Kể từ đó, cả vùng đất có đèo Hải Vân mới thuộc hẳn về nước Đại Ngu (tức Việt Nam ngày nay). Hải Vân trở thành ranh giới tự nhiên của hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam, như sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn đã chép: "Hải Vân dưới sát bờ biển, trên chọc tầng mây là giới hạn của hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam".

Tới năm 1470, vua Lê Thánh Tông thân chinh mang quân đi đánh Chăm Pa; khi tới đèo Hải Vân, ấn tượng và xúc động trước cảnh quan hùng vĩ, vua đã cảm tác làm thơ và đặt tên nơi này là “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”. Cái tên ấy lưu truyền mãi trong dân gian về một địa danh đặc biệt trên đường thiên lý Bắc – Nam.

Vào thời Nguyễn, Hải Vân là ranh giới giữa Thừa Thiên và Quảng Nam. Con đường đèo trên núi cực kỳ hiểm trở, nguy hiểm khó đi, nhiều thú dữ và kẻ cướp. Trong nhiều thế kỷ rất ít người dám qua lại nơi đây, và Hải Vân là trở ngại trong việc giao thương, giao lưu văn hóa giữa hai miền nam bắc. Ở phía bắc đèo, chân núi giáp biển có hang Dơi, tương truyền có thần sóng thường nhấn chìm thuyền bè; nên dân gian có câu ca dao: “Đường bộ thì sợ Hải Vân/ Đường thủy thì sợ sóng thần hang Dơi”.

Vào đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp đã thiết lập sự thống trị ở Việt Nam, họ đã tiến hành xây dựng đường sắt qua đèo Hải Vân vào năm 1902, và tới năm 1906 thì thông tuyến; nằm trong hệ thống đường sắt quốc gia khởi công từ năm 1881. Đây thực sự là một kỳ tích bởi địa thế đèo Hải Vân vô cùng hiểm trở. Đường sắt Hải Vân đi quanh co trên sườn núi, phải qua 6 hầm chui và 18 cây cầu. Tàu đi trên đèo một bên là vách núi, một bên là vực sâu và biển cả. Thời kỳ đầu ngành đường sắt sử dụng đầu máy hơi nước hay đầu máy diesel thế hệ cũ, khi tàu vượt Hải Vân phải lắp thêm đầu máy – một đầu kéo, một đầu đẩy. Tàu qua đèo Hải Vân với một tốc độ rất chậm chạp bởi đường dốc và nhiều khúc cua với bán kính rất nhỏ. Tuyến đường sắt đó vẫn tồn tại và được sử dụng cho đến ngày nay. Đi tàu vượt Hải Vân là một trải nghiệm khó quên với bất cứ ai bởi có thể ngắm nhìn thiên nhiên hùng vĩ, cảnh quan hoang sơ tuyệt đẹp của con đường đèo. Hình ảnh lãng mạn của đoàn tàu hỏa vượt Hải Vân đã trở thành cảm hứng để cố nhạc sĩ Phan Lạc Hoa viết bài hát “Tàu anh qua núi” bất hủ: Đi dọc Việt Nam theo bánh con tàu quay/ Qua đèo Hải Vân mây bay đỉnh núi…

Năm 2005, hầm đường bộ xuyên núi Hải Vân được khánh thành và đưa vào sử dụng. Đường hầm dài 6,28km (là hầm đường bộ dài nhất Đông Nam Á) đã rút ngắn hành trình từ 20km, giảm thời gian đáng kể và thuận lợi hơn nhiều về địa hình, an toàn so với đường bộ cũ. Tuy nhiên, nhiều người khi qua Hải Vân vẫn chọn đi đường bộ trên núi để thưởng ngoạn thiên nhiên và thử cảm giác mạo hiểm. Từ trên đỉnh đèo, vào những ngày đẹp trời có thể nhìn thấy thành phố Đà Nẵng, bán đảo Sơn Trà phía nam hay biển Lăng Cô ở phía bắc.

Sừng sững Hải Vân Quan

Nếu đi đường bộ, thì khi tới đỉnh đèo, sẽ gặp một kiến trúc hình chiếc cổng rêu phong, đứng sừng sững như thi gan cùng đất trời, mưa nắng. Kiến trúc đó là Hải Vân Quan – một cửa ải ranh giới giữa hai tỉnh, hai miền. Hải Vân Quan được xây từ thời Trần và có diện mạo như ngày nay là được trùng tu vào thời Nguyễn (năm Minh Mạng thứ 7 – 1826). Hải Vân Quan nằm trên chính đường phân thủy của dãy núi Bạch Mã – cũng là ranh giới của tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng ngày nay. Hải Vân Quan được xây hình cổng cuốn vòm. Phía trên cửa hướng về phủ Thừa Thiên xưa có tấm biển đá khắc chữ “Hải Vân Quan”, phía trên cửa hướng về tỉnh Quảng Nam (bao gồm cả Đà Nẵng) có tấm biển đá khắc chữ “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”. Hải Vân Quan thời Nguyễn là một quần thể nhiều hạng mục kiến trúc có chức năng là một cửa ải, cũng là pháo đài, là tuyến phòng ngự quan trọng phía nam của Kinh đô Huế. Hình ảnh Hải Vân Quan được khắc trên Dụ đỉnh trong bộ Cửu đỉnh đúc năm 1837 thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn.

Trong các cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, quân đội các nước này sử dụng nơi đây là một chốt chiến lược quan trọng và đã xây dựng thêm nhiều hạng mục quân sự khác như lô cốt; làm biến dạng nhiều kiến trúc Hải Vân Quan ban đầu. Trong chiến tranh, nơi đây cũng diễn ra nhiều trận đánh lớn làm hủy hoại nhiều tới kiến trúc công trình. Sau chiến tranh, di tích này bị bỏ hoang phế và xuống cấp, không xứng tầm là một kiến trúc – danh thắng quan trọng và có ý nghĩa trong lịch sử. Nguyên nhân chính của việc này là do Hải Vân Quan nằm trên ranh giới của hai tỉnh/thành Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng, nên có sự tranh chấp và chồng lấn trong công tác quản lý; nhưng thực tế di tích lại rơi vào cảnh “cha chung không ai khóc” nên càng điêu tàn và nhếch nhác hơn. Hải Vân Quan không những hư hại đến 70% mà còn bị chen lấn bởi mồ mả, công trình xây dựng, hàng quán chen chúc không theo quy hoạch nào. Sau rất nhiều nỗ lực của các nhà văn hóa và bảo tồn di sản; mãi tới ngày 14/4/2017, di tích này mới được Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch xếp hạng là Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Quốc gia. Điều đặc biệt, đây là di tích đầu tiên trên cả nước thuộc cả hai địa phương (quận Liên Chiểu – TP Đà Nẵng và huyện Phú Lộc – tỉnh Thừa Thiên Huế).

Hiện tại, hai địa phương Đà Nẵng và Thừa Thiên Huế đang tích cực trong công tác bảo tồn và trùng tu di tích Hải Vân Quan. Cuộc khai quật khảo cổ từ tháng 5 tới tháng 9 năm 2018 do các đơn vị chuyên ngành của hai địa phương, phối cùng Bảo tàng Lịch sử Quốc gia phối hợp thực hiện, đã cho thấy nhiều dấu tích kiến trúc và di vật quan trọng, là một kết quả khả quan để có thể xây dựng đề án phục hồi, trùng tu di tích Hải Vân Quan. Theo đó, những nhà khảo cổ đã phát lộ được quy mô công trình với nhiều dấu tích nền móng các hạng mục được xây dựng thời Nguyễn; như hệ thống tường thành cùng pháo nhãn của súng thần công hai bên cổng, nhà Trú Sở (nơi làm việc và sinh hoạt của quan trấn thủ) và nhà Vũ Khố (kho chứa vũ khí, hỏa dược và diêm tiêu), con đường thiên lý xưa đi ra/vào hai phía cổng… Song song với việc tiến hành nghiên cứu, làm xuất lộ các dấu tích kiến trúc của Hải Vân Quan, trong quá trình khai quật, các nhà khảo cổ đã thu thập được một số các loại hình di vật, bao gồm vật liệu gạch, ngói, mảnh vỡ các loại hình đồ sành, sứ, gốm men, đồ đất nung và mảnh bia đá thời Nguyễn...

Dự án Hải Vân Quan đang từng bước được phục dựng dựa trên những ghi chép trong các thư tịch cổ cũng như kết quả khảo cổ thực tế. Cả phía Đà Nẵng và Thừa Thiên Huế cùng kỳ vọng, dự án trùng tu Hải Vân Quan sẽ đem lại một điểm nhấn du lịch, điểm sáng văn hóa cho cả hai địa phương, là gạch nối ý nghĩa trên con đường di sản, kết nối du lịch bắc và nam Miền Trung; cũng là biểu tượng của quan hệ đoàn kết hợp tác giữa hai địa phương Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng.

Hai Sở Văn hóa và Thể thao của tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng cùng Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã và đang phối hợp chặt chẽ để triển khai dự án bảo tồn, trùng tu, tôn tạo di tích Hải Vân Quan. Cùng với dự án trùng tu, tôn tạo, các bên cũng đang nghiên cứu, thảo luận nhằm xây dựng một kế hoạch quản lý, phát huy giá trị một cách phù hợp, bền vững di tích này. Bước tiếp theo là quy hoạch tổng thể cả cụm đèo Hải Vân và các hệ thống thiết chế hạ tầng liên quan.

Theo thống kê của ngành du lịch, các năm 2018, 2019, mỗi năm đã có từ 1,6-1,8 triệu lượt khách đến thăm Hải Vân Quan. Con số này sẽ tăng lên nhiều nếu dịch bệnh Covid được không chế và khi dự án Hải Vân Quan hoàn thành; cùng với việc ngành du lịch được hồi phục. Và Hải Vân Quan cùng đèo Hải Vân sẽ là một điểm sáng văn hóa du lịch – hết sức đặc biệt. Khi đó chắc rằng cái tên Hải Vân sẽ lại sáng danh “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”.