VĂN HÓA

Phương ngữ Quảng Nam đã tạo nên tính cách người Quảng

DDVN • 03-08-2022 • Lượt xem: 170
Phương ngữ Quảng Nam đã tạo nên tính cách người Quảng

Chính ngay trong giọng nói, cách biểu đạt của phương ngữ Quảng Nam đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên tính cách người Quảng.

Trong phần trước, Một Thế Giới có đăng bài Lý giải người Quảng Nam hay cãi với hướng tiếp cận Đi tìm từ lịch sử.

Nhưng mọi chuyện hình như không phải chỉ có thế, nếu chỉ có thế thì giả định này xét cho cùng cũng giống như các giả định trên, không thể kiểm chứng một cách khoa học được. Và nếu được phản biện, liệu cái tính hay cãi do xung đột văn hóa có tiếp tục được duy trì khi chí ít từ 1802 sự xung đột này không còn nữa? 200 năm là hơn 8 thế hệ không còn phải tranh cãi hơn thua văn hóa nữa thì cơ sở nào để sự tranh cãi được nuôi dưỡng hết thế hệ này đến thế hệ khác?

Câu hỏi này đã dẫn đến một giả định khác, chúng tôi đồ chừng dường như chính ngay trong giọng nói, cách biểu đạt của phương ngữ Quảng Nam đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên tính cách người Quảng. Thế nhưng giả định này thật khó tin, nó hoàn toàn chưa từng có một tiền lệ nào để có thể đặt niềm tin ngoại trừ những nhận xét vui trong trà dư tửu hậu, hoàn toàn không có một cơ sở khoa học nào, như: Tiếng Pháp là để nói với người yêu, tiếng Anh là để hành chính, tiếng Đức để nói với kẻ thù; hoặc: Giọng Bắc để nói chính trị, Giọng Nam để làm ăn vì xởi lởi, giọng Huế nói với người yêu, giọng Quảng Nam để cãi, hay làm luật sư v.v...

Nhiều lần về vùng quê, tiếp xúc với những bà mẹ bà chị, có người cả đời chưa ra khỏi làng, lặng im nghe họ nói, và trong một lúc chúng tôi chợt nhận ra họ sử dụng một lượng vốn từ vựng nghèo nàn, thiếu hụt một cách trầm trọng!

Không kể số danh từ vật nào tên nấy, không thiếu; nhưng với tính từ, trạng từ, nhất là số từ biểu lộ tình cảm người Quảng Nam thiếu một cách không thể tưởng tượng được. Những câu người Bắc, người khu Bốn, Quảng Trị Huế diễn đạt một cách đơn giản, dễ dàng, sắc thái biểu cảm sinh động như: Điêu; quá đáng; tinh tướng; lấp lánh; hão; háo; vẽ chuyện; ra phết, đanh đá... thì người Quảng Nam hoàn toàn không biết đến những từ này! Và xem một người Quảng Nam diễn đạt vất vả một chuyện gì đó ta hiểu họ đã phải thay sự diễn đạt đó bằng những câu khái quát chung như: “Cái này cái nọ”, “nói chung là”,... được xuất hiện với tầng số khá phổ biến, trong khi người miền khác lại không dùng đến. 

Đây không còn câu trả lời nào khác ngoài hiện tượng ngôn ngữ đã được nhiều nhà ngôn ngữ khẳng định: Một cộng đồng người đã từ bỏ tiếng nói mẹ đẻ để nói một ngôn ngữ khác. Ở đây, đó chính là người Chàm đã từ bỏ tiếng Chàm để nói tiếng Việt!

Nhưng vấn đề vốn từ vựng người Quảng ảnh hưởng thế nào đến tính cách của họ?

Nhiều người nhận xét người Quảng Nam “ăn cục nói hòn”, “nghĩ sao nói vậy”, ghét kẻ “mồm miệng đỡ chân tay” “đĩ miệng”, “ba voi không được bát nước xáo”, tính tình bộc trực, “nói thẳng ruột ngựa”... thế nhưng tại sao lại “ăn cục nói hòn” thì hầu như chưa ai chạm đến? Theo chúng tôi, đó chính là vì sự thiếu vốn từ trong diễn đạt đã khiến sự diễn đạt trở thành “ăn cục nói hòn”!  

Phải chăng, chính sự diễn đạt khó khăn đó đã tạo nên tính cách? Tại sao, mặc dầu biết rõ “Lời nói chẳng mất tiền mua; lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, hoặc “Nói ngọt lọt tới xương” nhưng “nói ngọt” với người Quảng Nam dường như là điều vô cùng khó ! Chính vì không thể diễn đạt được các sắc thái tình cảm tinh tế, không nói được điều cần nói một cách bay bổng, nhẹ nhõm, người Quảng Nam đã lấy sự chân thành, nói thẳng mà bù trừ? Chính vì không diễn đạt được, không ba hoa bóng bẩy được nên người Quảng Nam lấy nói thẳng làm ưu thế, lấy thẳng thắn trung thực làm sở trường để chống lại cái sở đoản trong văn hóa diễn đạt? Mà nói thẳng thì hay gay gắt; chân thành thì hay giận; trung thực thì hay cáu vì đòi hỏi ai cũng trung thực như mình. Tất cả những tính cách ấy đều dẫn đến một thái độ tương đối căng thẳng trong cuộc sống.

Khi nói đến tính hay cãi của người Quảng Nam người ta thường lấy ví dụ về sự nghiệp canh tân đổi mới của các cụ Phan Châu Trinh, Phan Khôi... để bênh vực cho vẻ đẹp của tính hay cãi nhưng xét cho cùng sự canh tân đổi mới đâu có xuất phát từ sự hay cãi; người vùng não mà không có những vĩ nhân đi đầu trong canh tân đổi mới điều gì đó trong suốt lịch sử nhiều ngàn năm của vùng đất đó ? Hay cãi chỉ thành vấn đề khi chuyện vụn vặt không đấng cãi mà cũng vẫn cứ cái. Trong một cuộc đàm luận, ai đó nói điều trái ý, với người Bắc chỉ cần nói: “Bác cứ nói thế chứ em thì em nghĩ khác”; hoặc: “Bác cứ quá lời”. Nhưng đó là một ông Quảng Nam thì mọi chuyện đã khác : “Mi nói nghe ngu quá, hắn không lọt cái lỗ tai”, đã là nhẹ lắm rồi, nếu không thì: “Núa như con kẹt, con nít núa nghe còn hay hơn” !

Chúng ta thử đọc một vài bài thơ, vè do người Quảng Nam viết để cảm nhận mức độ nào đó về vốn từ họ sử dụng cũng như khả năng tìm sự diễn đạt thay thế là như thế nào.

Một bài về nghề dệt tằm tơ:

Làng ta ươm dệt tơ tằm

Tay thoi dịu nhút đũa tranh sợ vàng

Vải ta chẳng giống láng giềng

Khổ tuy hẹp tré nhưng mình mịn thanh

Lụa mỡ gà, vải Hà Đông

Đông hàn ấm hiểm, hè nồng mát ghê

Tuýt-so chỉ đánh hết chê

Đóng bộ đồ lớn bắt mê bắt thèm

Sa-tanh, hạnh phúc đệm bông

Mặc vô mát rượi anh hoanh hơn nàng

Trơn lu láng cóng tay rờ

Gái trai thêm ngộ, thêm gồ, thêm ngon.

Một bài khác, không sử dụng phương ngữ hơi cường điệu như trên mà là một bài huê tình, nghĩa các trạng thái tâm lý, tình cảm là khá tinh tế, nhưng đọc bài thơ ta chỉ thấy những khái niệm được mô tả bằng những con chữ tối thiểu, những so sánh biểu dụ được sử dụng tối đa nhằm thay thế cho sự mô tả nội tâm khá là nhạy cảm của người phụ nữ lúc xa người mình thương:

Giếng sâu lấp lại sao đầy

Dẫu thương cho mấy hồi nầy cũng xa

Đêm đông mờ mịt sương sa

Tay choàng qua cổ bậu, khóc òa như mưa

Thiếp với mình tình cũ nghĩa xưa

Dầu tối như mực cũng đưa nhau về

Bên chàng chiếu trải gối kề

Thương chưa nói thiệt mình về kẻo khuya

Dẫu mà phụ mẫu phân chia

Đừng rời mới lịch, đừng lìa mới xinh

Nghiêng tai hỏi nhỏ chút tình

Còn thương như cũ hay mình hết thương?

Chừng nào con ngựa rời cương

Thì đây thiếp mới hết thương chút tình...

Đây quả thực là một ví dụ sinh động về tính cách “có chi nói thẳng”, “ăn cục nói hòn” “nghĩ sao nói vậy” không thích vòng vo, đong đưa, bóng gió. “Thương chưa nói thiệt mình về kẻo khuya”. Nếu chuyển sang ngôn ngữ đối thoại hằng ngày thì sẽ là: “Thương không nói trớt để tui về kẻo khuya!”. Và nữa: “Nghiêng tai hỏi nhỏ chút tình, còn thương như cũ hay mình hết thương”. Vâng, lòng dạ em vậy, bụng em nghĩ vậy, em hỏi thẳng vậy. Nếu đây là một người con gái Bắc Bộ, con gái Huế thì họ sẽ nói sao?

Phải chăng chính cái lục cục lòn hòn, chính sự thô ráp tối đa trong biểu cảm của những người mẹ như thế này đã truyền lại cho con cái họ sự bộc trực trong diễn đạt, ngắn gọn chính xác và tối giản nhất trong giao tiếp, lại được nuôi dưỡng trong cái môi trường xung đột văn hóa kéo dài đã khiến hình thành nên tính cách người Quảng Nam? Và từ đó, đi đến tính cách hay cãi có lẽ là khoảng cách không xa nếu không nói chính là một.

*

Cũng như các giả định khác, có thể đúng có thể sai, nhưng chí ít giả định này là có thể chứng minh được nếu ta có được công trình về vốn từ người Quảng và công cụ tâm lý tham gia. Phần xây dựng công cụ đã cố gắng đưa ra một cái nhìn về vấn đề vốn từ của người Quảng, nó cần một công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn thế nhưng cũng tạm đủ cho ta có một cái nhìn không thể bỏ qua trong việc tìm hiểu bản sắc người Quảng Nam. Chí ít thì hướng đi này là có thể chứng minh được, kiểm chứng được và vì thế nó là khoa học hơn các giả định khác về tính cách người Quảng, như cho là do nước uống, do tính cách dân tội đồ lưu đày, do đầu sóng ngọn gió cần phải nói to!

Và một lần nữa yếu tố “người Chàm ở lại” đã để một dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn người Quảng Nam hôm nay. Sự thừa nhận điều này không thuộc về khoa học. Cho dù bây giờ ta làm được xét nghiệm ADN với từng người Quảng Nam và kết luận nguồn gốc Chămpa đậm đặc trong mỗi người thì sự thừa nhận nguồn cội cũng thuộc về quyết định của từng người chứ không nằm ở trong cái phiếu xét nghiệm ADN ấy.

Vẫn còn một câu hỏi nữa, tại sao vùng Bình Định, Phú Yên nói người Chăm ở lại đông hơn, chuyển sang nói tiếng Việt muộn hơn lại không vấp phải tính cách hay cãi này mà thường bông lơn hơn, vui nhộn hơn? Theo tôi dường như ở các tỉnh này vấn đề xung đột văn hóa diễn ra không gay gắt bằng Quảng Nam , ở các tỉnh phái Nam này người Chàm ở lại trong suốt chiều dài lịch sử là số đông tuyệt đối, lượng người Việt luôn là số ít cho đến cả sau khi Nguyễn Hoàng vào Nam. Không có hình ảnh da báo, làng Việt xen kẽ làng Chăm kéo dài nhiều trăm năm như ở Quảng Nam. Bằng chứng là số tộc họ có số đời trên 15 ở Quảng Ngãi - Bình Định là vô cùng hiếm. Và trong ngôn ngữ, vấn đề từ vựng và mẫu câu, theo cảm nhận ban đầu, các tỉnh này không rơi vào khủng hoảng thiếu như ở Quảng Nam. Tại sao lại thế thì có lẽ câu trả lời nằm đâu đó trong cái thời gian mà người các tỉnh này chuyển sang nói tiếng Việt, hoặc sự bảo lưu ngôn ngữ của người Chàm ở lại là dai dẳng hơn chúng ta nghĩ. Các tư liệu để lại là chữ Hán, là của người Việt, những tư liệu xã hội thì qua những bức tranh của Barrow đến Đà Nẵng năm 1793, những người mà sử liệu gọi là “mọi” đó nói thứ ngôn ngữ gì thì ta không được biết. Đến lúc nào thì họ mới chịu chuyển sang nói tiếng Việt, thời Minh Mạng chăng? Lý do gì đi nữa thì ta cũng có vài bằng chứng mơ hồ do luận suy mà có về những người Chàm ở lại chỉ chịu chuyển sang nói tiếng Việt rất muộn. Và đây, có phải chính là nguyên nhân để lượng vốn từ, cũng như tính cách người Quảng Nam khá là đặc biệt như đã nói.

Và điều cuối cùng muốn nói, chỉ khi hiểu rõ nguyên nhây gây nên bệnh thì mới có thể chữa dứt được bệnh, chỉ khi hiểu rõ nguồn cơn của tính cách, tuy nhiều tích cực nhưng cũng không ít tiêu cực trong văn hóa giao tiếp, thì ta mới có thể cải thiện được cho lớp trẻ các thế hệ tương lai. Khi nói đến việc một người Quảng Nam hòa nhập trong giao tiếp với người vùng miền khác nhiều người chỉ nghĩ đến vấn đề ngữ âm hay phát âm cố cho chuẩn mà không hay rằng vốn từ mới là điều quan trọng. Chúng tôi tin với số lượng vốn từ phong phú hơn, diễn đạt trôi chảy hơn, mẫu câu giao tiếp nhiều hơn thì tính cách người Quảng sẽ được cải thiện hơn, chí ít là trong diễn đạt, điều mà lối sống hiện đại đòi hỏi ngày càng cao.

Và một kết luận nữa, dù muốn hay không ta cũng phải đi đến kết luận rằng tính cách của con người ta, chính xác hơn, tính cách của một cộng đồng, một dân tộc được quyết định phần lớn ở thứ ngôn ngữ mà họ nói! Người Minh Hương đến Malacca sau 300 năm vẫn giữ nguyên bẳn sắc với ngôn ngữ và lối sống của mình. Cùng lúc đó người Hoa Minh Hưong đến Hội An đã hoàn toàn hòa nhập vào cộng đồng Việt. Câu hỏi đặt là quá lớn nhưng dự cảm về một vai trò nào đó của ngôn ngữ tiếng Việt là có thể đặt ra và xứng đáng để đi đến cùng. Một sức mạnh nào đó, hay đơn giản chỉ là một sự tiện dụng nào đó của tiếng Việt đã khiến cho mọi ngôn ngữ khi tiếp xúc với nó đều như bị tiêu vong? Một kết luận quả thực hết sức to tát và tác giả cuốn sách này thực sự không muốn, và cũng không đủ sức để đi hết con đường này.

Theo Hồ Trung Tú/1thegioi.vn