VĂN HÓA

Nguyễn Hữu Hồng Minh: Thơ là lý do tồn tại

Vương Huy • 17-01-2020 • Lượt xem: 11342
Nguyễn Hữu Hồng Minh: Thơ là lý do tồn tại

Tập thơ “Paris - tên em trong gió cuốn” là một trong 5 thi phẩm của thi sĩ, nhạc sĩ Nguyễn Hữu Hồng Minh. Trước đó, anh từng xuất bản các tập thơ:  “Giọng nói mơ hồ”, “Chất trụ”, “Vỉa từ” và “Lỗ thủng lịch sử”. Nhà thơ Vương Huy có bài nhận định về tập này. Có thể đây là một góc nhìn riêng của anh. DDVN trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. 

Tin, bài liên quan:

‘Mặt trời soi vết thương yêu’ - đêm nhạc mới của Nguyễn Hữu Hồng Minh

Nhà văn và độc giả lý tưởng

Phan Tam Khê và bí mật những dòng suối nhỏ

Viết, với Nguyễn Hữu Hồng Minh là một cứu cánh. Tất cả cuộc đời của anh là viết, chỉ để viết. Anh thật sự đắm chìm trong ngôn ngữ không lối thoát, và cũng không muốn thoát. Ngôn ngữ với anh là thực tại, là giấc mơ, là tình yêu, là khát vọng và là cứu rỗi. Tâm hồn anh đắm say với sự viết, trong khi cuộc đời anh là hoang vu, là đổ vỡ chất ngất. Chữ như ma ám, như một nỗi buồn tuyệt tận. Anh tìm giải thoát trong hành động viết.

Chân dung Nguyễn Hữu Hồng Minh - Sơn dầu - Họa sĩ Lê Sa Long

“Paris – tên em trong gió cuốn” là một tập thơ mới của anh như để minh chứng cho tháng ngày lao lực trong khổ ải viết lách. Những câu thơ rất tự do, không vần điệu, bung phá cõi tâm linh chúng ta khi đọc, như mở rộng chiều kích tâm hồn, như từng con sóng dạt dào vẫy gọi giữa biển khơi. Những bài thơ đau đớn và tuyệt vọng trong ma trận chữ nghĩa và cuộc đời, nhưng hình như vẫn le lói một niềm tin vào trang viết như một thứ đọng lại, còn lại, neo lại cái cõi đời vô thường này. Mỗi bài thơ trong tập là một mảng tâm trạng được bứt ra đặt trên trang giấy trong khát vọng về một chân trời đã mất. Cuộc đời anh từ đó hư vô như một vũng lầy, vô phương hướng như không la bàn giữa trùng dương. Chỉ có trong tuyệt vọng, Thơ mới cất lên tiếng nói khởi thủy của nó, thoát khỏi mọi rào cản áp đặt vô hình của một thứ sợ hãi chi phối. Thi sĩ lúc đó là thần linh, là vong hồn yểu mạng, là sự sống và cũng là cái chết.

Tình yêu đối với anh là gì? - Cũng chính là thi ca. Anh mang một tâm hồn trống vắng, không bóng hình người thục nữ. Tình yêu trong anh cũng đã khô cằn như những con chữ. Việc tối quan trọng là phải tìm lại nguồn sinh lực của Thi ca và cũng chính là nguồn tình trong muôn một. Thời hiện đại, tình yêu đã vỗ cánh bay mất, chỉ còn lại dục tình. Thi sĩ chìm ngập trong nó nhưng lại luôn muốn khước từ nó; cảm giác chập đôi lưỡng phân. Anh viết:

     “Không em, anh nhớ ra vắng em Sài Gòn nhỏ

      Tâm hồn trống trơ không một mẩu tự

      Những ý nghĩa phơ lậu tồn tại nghìn năm như xác chết

      Một đêm nay nữa mai phủi bụi tro tàn

      Những mẩu tự không nở hoa

                              xé thơ anh như gai kim tước

      Cuộc tồn tại không tình yêu, không em

      Trơ vắng hoang địa

                      những tay đồ tể khai quật hoa văn xác ướp”

                       (Paris - tên em trong gió cuốn)

 

Bìa thi phẩm "Paris, tên em trong gió cuốn" của Nguyễn Hữu Hồng Minh - Nhà xuất bản Hội Nhà Văn Việt Nam

Cuộc đời anh mất phương vị, vô định trong hỗn độn những được mất, thành bại và những trò nhiêu khê vốn là bản chất. Trên bước đường cay nghiệt, anh tồn tại như một vong hồn luân lạc qua vô lượng kiếp, vô lượng chiều kích. Ẩn tượng cuộc đời như anh đã viết, đó chỉ là “Một chìa khóa rỉ, một căn phòng chật”. Bao trùm tập thơ là cảm giác lẻ loi, trôi dạt, phù du, anh viết một cách hình ảnh:

       “Anh cánh buồm xiêu gió

        Từ nay lưu lạc trắng đại dương

        Đến em

        Cũng chẳng biết tâm hồn anh ở đâu”

                        (Không còn tiếng nói)     

Mỗi bài thơ như một mảng màu tăm tối, u ám ghép lại với nhau hình thành nên một bức tranh của sự tiêu hủy, của buồn nản và vô vọng từ trong bản thể. Những câu thơ lắng đọng như thế này có rất nhiều trong tập thơ như một sự kết tủa trong cái phản ứng tâm thức và ngôn ngữ. Thí dụ như:

          “Những câu thơ như bụi thời gian

           Lắng dưới đáy cốc

          Uống cạn những cay đắng muộn phiền”

                           (Đâu có gì!)

Tập thơ đề cập đến rất nhiều vấn đề nhưng nổi bật là một tâm cảm bị ám ảnh bởi thơ, tồn tại cho thơ và tiêu vong cùng thơ. Những câu thơ đã vận vào đời anh như một căn nghiệp, một thứ bùa mê, và sau cùng nó quay lại quăng quật đời sống anh vào đá tảng, vào vực sâu, vào cái chết mục rữa:

         “Anh biết cuộc đời mình sẽ chấm dứt bất cứ lúc nào

           Nên anh đeo bám những câu thơ một cách dai dẳng

           Nhiều cú đảo chao chí mạng

           Câu thơ quăng anh vào vực

           Ném anh xuống biển sâu

           Gông cùm anh trong cảng vắng

           Đeo anh vào đá”

                            (Tung tiêng! Tung tiêng!)      

Một cảm thức hẫng hụt, rơi vào hư vô, khi gieo xuống những con chữ và mang về sự trống không. Hay là thơ đã chết trong tâm hồn người? Ai là người đồng điệu trong bóng đêm vàng võ một ánh đèn hắt sáng? Anh đã chạm tới cái ý nghĩa sự tồn tại của Thơ ca trong một xã hội hiện đại cuồng quay vật chất hóa tất cả. Anh ghi xuống giấy:

          “Không còn nơi để trở về

           Câu thơ mất hướng

           Uể oải những ngọn sóng tưởng tượng

           Giật lên cái - rỗng - lạnh - giữa hư vô”

                               (Cá ẩn dụ)                

Mất niềm tin, lạc loài, vỗ bàn tay trắng, nhưng anh chỉ còn tin tưởng vào sự cứu chuộc của thơ. Với anh, Thơ như một nhân cách sống, một sự thanh sạch còn sót lại giữa dòng đời nhiễm ô:

           “Những câu thơ tinh khiết ban mai

             Như điều thanh sạch cần phải giữ

             Như cuộc đời hung bạo vẫn cần phải sống”

                               (Ruồi, nước và nhà thơ)

Kiếp thi sĩ - kiếp con tằm nhả những đường tơ cho đến cạn kiệt xác thân. Anh xem Thơ như một tôn giáo, như một chất dẫn truyền gây nghiện với những ảo ảnh phù thế chập chờn:

             “Khi con tằm phải nhả tơ anh phải sống vất vưởng

                   giữa cuộc đời như bóng ma dật dờ phiêu dạt

              Một Tôn giáo - Ma túy

              Lang thang, lang thang và lang thang tuyệt đối”

Và nỗi tuyệt vọng khốn cùng khi đã lỡ xem thơ như một cứu cánh:

             “Chữ nghĩa, thánh địa cuối cùng

              Dựng lên và sụp đổ …”

                                (Tình ca Ác quỷ)

Đây cũng là nỗi tuyệt vọng chung của toàn bộ các thi sĩ trong bối cảnh thơ ca hiện đại khi họ xem Thơ như một phương thức tồn tại, một mục đích. Nhưng chỉ một mình anh nói lên được cảm thức sụp đổ u uất nầy. Âu cũng là duyên nghiệp, chỉ còn lại một sự quạnh vắng trơ trọi giữa một thành phố chết: “Bơ vơ trước cách làm người”.

Viết! Viết! Như một hành động tử vì đạo. Anh chấm vào máu mà viết như một lối thoát duy nhất và chấp nhận đọa đày trong cõi chữ nghĩa. Viết, với anh, như một định mệnh, như một sự khước từ. Ảo ảnh danh vọng lùi xa, chỉ còn một sự vô vọng và một niềm tin cũng hư ảo như chính bản chất của Thơ vậy:

              “Viết gì?

               Cắt gân máu bàn tay trái

                Mi không phải là thi sĩ !

               Trò chơi rối rắm chữ nghĩa !

                Một con chiên tử vì đạo

                giữa bọn bồi bút múa máy khùng điên

                Một niềm tin hoang hồ

                ……

                Giã từ thôi, giã từ

                Trên bàn tay bại liệt của mi

               ngòi bút trơ cạn dòng suối máu...”

                                           (Giã từ)  

Như đã nói, chữ nghĩa với anh như một độc đạo vượt thoát khỏi cái tù túng của cuộc đời chật hẹp nhưng cũng chính chữ nghĩa đã xô anh vào một tuyệt lộ của mê cung đổ vỡ:

               “Ai có thể giải thoát anh ngoài chữ nghĩa

                Và cũng chính chữ nghĩa bịt mắt anh

                 Dẫn đến tuyệt lộ rạn nứt tận cùng”

                                   (Trở lại)

Một bi kịch sấp ngửa của nghề viết. Dường như tất cả những người cầm bút đều có một cảm trạng thất bại trước sự xô xát cuồng điên của cuộc đời hỗn loạn.

Trong cô đơn vây bủa, anh lắng nghe từng nhịp thời gian ra đi không đợi chờ ai. Sau tất cả mộng văn chương thời tuổi trẻ giờ chỉ còn lại một sự xót xa lạnh lẽo (khi anh đạt đến đỉnh cao chạm trời thì cũng đồng nghĩa với việc anh nhận ra chỉ có một mình anh cô độc trên ngọn núi mà không có cả tiếng cười vang rợn của Không Lộ thiền sư). Tất cả đã đổ vỡ cho một lần thơ thành tựu. Anh viết:

               “Mười lăm năm Huy ơi !

                 Cô độc lòng ta như trái phá

                 Không bục được với đời mà lở loét sâu thêm

                 Sài Gòn ngục tù bụi chết nhiễm chân

                 Lả mộng văn chương, lả mộng

                 ……

                 Những ngọn đồi chảy máu u mê

                 Mười lăm năm,

                    mỗi câu thơ là một huyền ngôn thất chí...”

                      (Gửi Vương Huy, nơi tận cùng thế giới)

Nguyễn Hữu Hồng Minh bên sông Seine - Pháp

Viết là sám hối, viết như một định mệnh toàn triệt bởi không thể khác được. Viết là máu thịt, là xương tủy, là hồn vía. Trong bài thơ “Phản đề Kafka hay giấc ngủ nhà văn”, anh viết:

               “Gốc Do Thái như ông mặc lãnh trong máu

                 Viết, mẩu thịt thừa, cô đơn

                 Viết, bởi không thể là gì khác

                 Những trang ngạt thở ném vào toa thực tại

                 Hôm nay và kiếp ngày qua

                 Cuộc sám hối không bờ bến

                 Cõi tha nhân …”

Tóm lại, tập Paris - tên em trong gió cuốn là tập hợp những mảng tâm trạng ám tối đan quyện nhau trong một trường chữ nghĩa cuốn hút và phơi bày. Mỗi chữ như đọng cả máu tủy, óc não của tác giả. Tập thơ nhất quán ở giọng điệu, với lối viết tự do bung ra tất cả một cách thoải mái làm hiển lộ toàn bộ nội tâm chất chứa. Vì trang báo có giới hạn nên không thể viết hết tất cả những gì tập thơ đề cập. Hy vọng các bạn sẽ tìm đọc nó và phát hiện nhiều điều lý thú hơn.

V.H

 

DDVN giới thiệu chùm thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh

Paris, tên em trong gió cuốn

Em, không thể hình dung một câu thơ sẽ viết về em

Chỉ nghe được những ngón tay rì rầm tỏ tình trên bàn phím
Những phím êm lướt nhẹ say rượu
Những ngón nhấn lả lơi rải từng nốt dương cầm
Em, không thể hình dung một câu thơ sẽ viết về em
Chỉ nghe được những ngón tay rì rầm tỏ tình trên bàn phím
Những phím êm lướt nhẹ say rượu
Những ngón nhấn lả lơi rải từng nốt dương cầm
Câu thơ vẽ ra chân dung em
Dáng thon, cười giòn, môi son, vú nõn, đùi non, eo tròn, mông ngon, gót son
Ôi cái vần on lần đầu anh phát hiện ra
Từ chìa khóa trong em ngoài anh (on - in)
Anh dướng nhõn, trớn ngon, run xón, vó bon, nhịp thón, ngập gọn
Vào ra ton ton
chắc cơ nhịp nhàng
Ôi sướng!
 
Em, không thể hình dung thành phố nào anh viết lên hai chữ yêu em
Paris trong đêm, Berlin ban ngày, Munich chuyến bay không đụng hàng
Yêu em sung sướng và lo sợ như áp tải phi vụ lậu
Những cô điếm ngả ngớn trên cầu đêm nay
Sông Xen một dòng trôi
Mang hồn thơ Apollinaire đã chết
Sắc vóc gấm hoa của kinh thành Paris
Không em, anh nhớ ra vắng em Sàigòn nhỏ
Tâm hồn trống trơ không một mẩu tự
Những ý nghĩa phơ lậu tồn tại nghìn năm như xác chết
Một đêm nay nữa mai phủi bụi tro tàn
Những mẩu tự không nở hoa xé thơ anh như gai kim tước
Cuộc tồn tại không tình yêu, không em
Trơ vắng hoang địa những tay đồ tể khai quật hoa văn xác ướp
 
Em, không thể hình dung anh đã tìm ra em khó nhọc
                         như chuyến bay đổi giờ tìm hành lí
Phi trường Charles de Gaulle mù người, mắt anh nhòa lệ
Paris ôi Paris chuyến đi mướt trong sương
Khí lạnh hoàn cầu đang đổ về từng giờ áp thấp
Có thể máy bay rơi vì mù sương
Ngày mai tên em trong gió, cuốn mưa về Luân đôn
Anh vẫn sang sảng đọc thơ ở Literaturwerkstatt
Những câu thơ của cuộc đời ngoài tưởng tượng
 
Như bây giờ anh gắng đọc tên em, trên một bản chỉ đường Terminal
Ốc mượn hồn chui lạc xuống đường hầm Aéroport Gares
Ôi, em!
Anh không thể hình dung…
 
Câu thơ mới nảy lá từ nghĩa địa mộng mơ khô héo
Lạc Paris anh tìm thấy một cung đường

“-Nào! Ngài Apollinaire mời ngài rượu cùng tôi đêm nay!
Uống đi! Cho cạn sông Xen!
Cho câu thơ cháy thành Paris
Cho thế giới lồng bóng hình em trong nghĩa mới!...”

Paris, Sân bay Charles de Gaulle 11.2005.

                  

Em Potsdamer làm phiền anh quá!

Tặng Astrid Beilke

 Em Potsdamer làm phiền anh quá

Bấu linh hồn anh như vuốt quạ

Berlin anh đâu sống những ngày qua…

 

Phố phố phố phố

Sony Center, Cine Star I max,

Film Haus, Billy Wilder’s

Internationle Filmfest piele Berlin…

Đại lộ Potsdamer Strafze

Mắt giấy chọc trời

Đẹp như thuốc độc

Em làm phiền anh quá thôi !

 

Đẹp hơn thuốc độc

Đẹp muốn chết

Đẹp cháy khát cổ

Đẹp nuốt nước bọt như ngậm than

Đẹp loại trừ, đẹp muốn dẹp bỏ

Đẹp ngay lập tức muốn giết người

Muốn nổ con ngươi

Dây leo xanh, cài cái chết vào sự sống

Bứng rễ sự sống ngâm giấm

Linh hồn rỗng réo loạn trong con Ma-nơ-canh

 

Mắt em xanh gườm anh ghẻ lạnh

Môi mọng mỡ màng,

Mông mơi mơi, nịt vú lơi khơi

Đăng-ten ngực giấu thuốc phiện sau áo

Phố xá xe điện ầm ào

                  Anh nháo nhào

Đuổi theo em soãi những bước dài

              sướt mặt tường đá

 

Sẵn sàng uống thuốc độc cao liều

Sẵn sàng yêu

Sẵn sàng phiêu

Phơi điếu

Đùi dài hơ hớ

Rong ren quấn cổ

Linh hồn rắn

Thơm ngon như điếu xì gà

Anh bỏ đời

Ôi Potsdamer

        anh chưa sống những ngày qua…

 

Berlin đâu có những ngày qua…

Đại lộ Potsdamer, Berlin 11.2005

 

Thơ

Tôi đã mang theo em trong trái tim ngạt thở 
Tôi phải thở cho em 
Còn phải thở cho tôi 
Tôi đập cánh, tôi nhóm lửa
Ánh sáng ngược về em tro bụi phía tôi ngồi

Tôi che chắn đỉnh u trầm bão gió
Giữ nuôi em ngọn nến mướt mềm
Tôi đà đắm lạc hồn trùng lau lách
Rũ hoang tàn em dựng ánh ngày lên

Ngọn nến tự ăn mình khi thắp cháy
Soi tìm gì trước vực đáy hư vô
Tôi đã mang em quá lâu
Em đã ăn tôi quá sâu
Ngục tim rỉ máu
Rụng ngàn sao xuống tiếng nấc mơ hồ

(Áp thấp, 10.1997)

 

Vùng sâu ký ức

Trên dây đàn anh hát tự do 

Tự do bắt qua thơ 
Thơ bước lên đỉnh sọ thế giới

Trên trang viết là đêm, trên đêm ngôi sao biếc
Thơ là ánh trăng, biển xa, những thân tàu
Thơ mở ra thời đại, thơ bay qua cái chết
Là dây đàn ngàn giai điệu xanh sâu

Thơ là trăng hay ánh lóe của trăng?
Sóng lửng đuổi cánh buồm?
Thân tàu chìm vào biển biếc?

Thơ là thăng hoa, trôi dạt, hủy diệt 
Là vảy những con cá sáng trong mơ anh
Vì chiếc vảy ánh vàng trăng trắng ấy
Cuộc đời cuốn anh trên bão chòng chành

Không định nghĩa thơ - 
Quên những định nghĩa thơ 
Bởi không lời thơ mới nói hết sự thật

Sự trống rỗng làm đầy thơ, 
Thơ làm đầy sự trống rỗng

Thơ tiếng kêu thét tang thương 
Thế kỷ anh đang sống

Thơ cài vào anh những ngày góa bụa
Những ngày ngôn từ bất lực 
chuyển máu thành thơ

Mình anh một âm vang, 
mình anh với lưỡi hái cắt cổ
Mình anh tự rã tan với một kiếp sao mờ

(6.1998)

 

Tay chơi Hy Lạp

Tặng Trần Tiễn Cao Đăng

Lại đến, đi những chân trời không định trước

Đêm nay Sài Gòn, trưa mai Hà Nội
Lên đường!

 

Nhói lòng ta những ga khắc khoải
Đổ bóng xuống trang văn tiếng còi xé nửa chừng
Còn tuổi nào cho ta vui trở lại?
Phải chăng héo một đời dở dang tìm kiếm?

 

Bao giờ cho ta về miền Tây chiều mưa tháng Tám
Ta đã xế-nổ xuyên lòng Sàigòn đêm,
Qua Mỹ Tho, Cai Lậy, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng
Chỉ tình yêu văn chương giúp ta tới đây
Xứ sở những cô gái Miên, Dơi và chùa Tháp
Cơn mưa chiều heo hút những cánh đồng chưa gặt
Mặt trời đỏ vai Bạc Liêu, chín trên số phận người
Sống bí ẩn, lầm lỳ như đất đai, chết thanh thoát như gió
Những trưa nhà cổ Mỹ Xuyên, những chiều thị trấn Kế Sách
Hồn đêm còn đâu đó bụi đường đẫm vai Vị Thanh
Bao giờ cho ta nói cười thật to giữa ngày hội Oóc-om-boóc
Chiến thuyền đua nhau lao vút trên sông Cổ Cò
Ngầy ngật hơi người vắng văn minh nhưng ngát đầy văn hoá cổ
Gương mặt chàng Miên Mã Tộc buồn và đen,
héo quăn như mẩu tự chết vừa khai quật
Làn mi cong, bộ ngực mẩy của em gái Căm-pốt làm ta ứa nhựa sự sống
Oải, sống chỉ ươm mầm khổ đau, nhưng vì quả chín kia, ta chết

 

Cho ta về trên bến Tắc Vân nửa khuya 2 giờ sáng
Ai xuôi Đầm Dơi, Tân Tiến, ai về Đầu Trâu, Năm Căn, Thới Bình
Những hẻo rạch sông nước mênh mang, ngỡ góc bể chân trời nào cũng sẽ phải đến
Ngươi từ đâu đến đây bão bùng cơn gió lạ?
Tình yêu thốc tháo bình minh cháy rực buổi sớm loang dài mặt sông
Tím tái tâm hồn ta, ngọn đuốc lá dừa cháy trên dòng Dinh Hạng

 

Bao giờ câu thơ bốc lửa như đùi em xoăn cỏ cháy
Ta bốc trần từng múi Miên giữa thị xã Vàng bỏ quên
Văn chương – xã hội đen, 
Ngôn ngữ và du đãng,
Thi sĩ – tướng cướp
Má mì và Nàng thơ
Ai chân thiện mỹ hơn ai?
Viết mãi bao điều vô nghĩa

 

Dĩ vãng nỗi đau nào thăm thẳm trong lồng ngực
Chữ nghĩa và Máu,
Linh hồn khô cạn theo từng câu chữ hút tủy xé tràn
Viết, viết đi để một ngày mãi mãi không còn được viết nữa
Bao giờ Nam Ô chết lịm trong nhà thổ váy đùi
Cười đi em, tháng ngày đời ta trong boong-ke tuyệt vọng
Máu chảy trong châu thân và hồn chênh vênh trên những đỉnh Từ
Ngoài đường biên của những vòng kiểm soát
Ta đã chết những ngày xanh tuổi trẻ
Mơ Miên mang mùi mửa máu

 

Bao giờ cho ta bên biển Đà Nẵng
Những cánh hải âu chớm trắng, vọng hải đài đổ vọng khuya
Tháng ngày ném trong va-ly, chân trời, tình dục và khói thuốc
Ta dự báo những trang viết như một điềm không lành vào văn học xứ sở
Ổ điếm của những con chữ đĩ rạc, hết hương nhuỵ, thiếu sức sống
Nhà văn làm một cai thầu, một chủ chứa, hương nách của sự ngợi ca
Những ý tưởng cùn mòn đá mài, bố cục mọt mối cổ lỗ như nhà rường
Chuyên chở những câu văn diêm dúa không gợi nổi niềm căm hận
Vẩy nước hoa lên bản chất dã man của cuộc sống
Cuộc sống rỉ máu bên trong
Văn chương như nước rửa trên mặt đá
Nhà thơ thành những thằng rồ lang thang dưới đại lộ đọc những câu lộn óc
Kết thành bầy buôn bán phấn son văn chương
Thời oanh liệt của Thơ là mấy cuốn sách bụi bám trong viện bảo tàng
Ngày tháng đổi thay, cái chết nảy ổ sự sống
Bên cảng Tiên Sa ta đã viết
Dự báo cái chết của ta thành vấn đề của thế kỉ…

 

Bao giờ cho ta cùng em lang thang phố phường Hà Nội
Băm sáu phố phường nghìn năm văn hiến chuyển dạ trong một đêm lúc ta về
Tiếng còi tàu xé ga Hàng Cỏ
Thao thức sự đổi thay nổ tiếng sấm trên đền miếu thiêng
Những câu thơ không còn niềm vui mà ám ảnh
Vụt bắt và tái hiện trong giấc mơ

 

Như tiếng còi tàu đời ta
Đã ném vào tuổi ba nhăm
Vẫn lạc hồn khi bừng thức giữa trưa, giữa một ga xa lạ
Khi chết vẫn là một trái xa lạ không giải mã…

(Sài Gòn, 20.7.2005)

N.H.H.M

Kết nối cộng đồng

Xem toàn bộ ›