Đò đưa

Đầu xuân, tìm hiểu về Lý Ông Trọng, danh tướng Việt

DDVN • 01-03-2022 • Lượt xem: 188
Đầu xuân, tìm hiểu về Lý Ông Trọng, danh tướng Việt

Tên tuổi và chiến tích của Lý Ông Trọng từ bộ sử đầu tiên của nước ta là “Đại Việt sử ký toàn thư” đến các áng cổ văn tuyệt tác: Lĩnh Nam trích quái, Việt điện u linh, các diễn ca Thiên Nam minh giám, Thiên Nam ngữ lục… đều nhắc đến.

Tin và bài liên quan: 

Tháng ngày không tọa độ - Thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh

Nguyễn Hữu Hồng Minh: Thơ là lý do tồn tại

Đọc 'Vỉa từ' Nguyễn Hữu Hồng Minh: Thi ca, Kịch nghệ và sự Chuyển hóa Bản thân

Lê Trọng Phương (ĐH Bonn - Đức): Nguyễn Hữu Hồng Minh: Cầu vồng của thơ

Nghệ thuật Nguyễn Hữu Hồng Minh: Cánh hoa giữa vực thẳm và đỉnh cao

 

Lý Ông Trọng được tôn xưng là Đức Thánh Chèm và thờ tại đình Chèm.Lý Ông Trọng được tôn xưng là Đức Thánh Chèm và thờ tại đình Chèm.

Xuyên suốt hơn 2.000 năm, nhân vật lịch sử Lý Ông Trọng là người Việt duy nhất khiến Tần Thủy Hoàng cũng phải nể trọng mà đúc tượng bằng đồng trấn ải đánh đuổi quân Hung Nô.

Con rể Tần Thủy Hoàng

Tên tuổi và chiến tích của Lý Ông Trọng từ bộ sử đầu tiên của nước ta là “Đại Việt sử ký toàn thư” đến các áng cổ văn tuyệt tác: Lĩnh Nam trích quái, Việt điện u linh, các diễn ca Thiên Nam minh giám, Thiên Nam ngữ lục… đều nhắc đến.

Ông là bậc dũng sĩ văn võ song toàn, văn đạt Hiếu liêm, võ đạt Hiệu úy - từng giúp vua Hùng Duệ Vương chặn giặc giữ yên bờ cõi Văn Lang. Đến đời An Dương Vương giúp vua với nhiều công trạng. Khi được cử làm sứ sang Tần thì giúp Tần đuổi giặc Hung Nô. Vua Tần cảm kích phong làm Vạn Tín hầu và trở thành phò mã của Tần Thủy Hoàng khi kết hôn với công chúa Bạch Tĩnh Cung.


Tương truyền Lý Ông Trọng khi sang sứ Trung Hoa đã giúp nhà Tần đánh thắng quân Hung Nô. Ảnh minh họa: IT.

Cuốn “Giai thoại Lịch sử Việt Nam” của tác giả Kiều Văn ghi rằng, Lý Ông Trọng còn có tên khác là Lý Thân. Dưới thời An Dương Vương, ông giúp Thục Phán đánh tan quân xâm lược nhà Tần (năm 208 TCN).

Sau khi đánh bại đội quân xâm lược của Tần Thủy Hoàng do Hiệu úy Đồ Thư dẫn đầu, nhằm cải thiện mối bang giao với nước Tần, Thục Phán An Dương Vương đã cử Lý Ông Trọng đi sứ phương Bắc.

Bấy giờ Tần Thủy Hoàng đã làm chủ cả vùng Hoa Hạ rộng lớn sau khi tiêu diệt các nước còn lại trong nhóm thất hùng gồm: Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề. Tuy đang là cường quốc nhưng ở biên giới phía Bắc nước Tần, người Hung Nô liên tục vượt qua Vạn Lý Trường Thành quấy phá.

Hoàng đế Tần Thủy Hoàng sẵn mối hậm hực chuyện thuộc tướng Đồ Thư, mấy năm trước bị người Âu Lạc chém chết nên giữ Lý Ông Trọng ở lại đất Tần. Hoàng đế sai ông đem quân lên phía Bắc đánh dẹp quân Hung Nô.

Tương truyền Lý Ông Trọng là người có thân hình lực lưỡng, rất giỏi võ nghệ, đánh quân Hung Nô bách chiến bách thắng. Chỉ cần nghe tên Lý Ông Trọng, quân Hung Nô đã hồn bay phách lạc, bủn rủn bỏ chạy. Nhờ vậy mà Tần Thủy Hoàng nể phục tài năng, phong ông chức Tư lệ Hiệu úy trước khi để ông hồi hương về phương Nam. 

Đúc tượng trấn ải


Tượng thờ Đức Thánh Chèm Lý Ông Trọng trong đình Chèm.

Khi biết tin Lý Ông Trọng đã về nước, quân Hung Nô kéo sang đánh Tần. Vua Tần lại sai sứ sang Âu Lạc mời Lý Ông Trọng. Không muốn đi và để tránh phiền nhiễu, Lý Ông Trọng đã trốn vào rừng, vua Thục phải nói với sứ giả rằng ông đã chết. Tần Thủy Hoàng không tin, dọa sẽ đem quân tấn công, đòi tìm được xác của Lý Ông Trọng mới tin. Cuối cùng, ông phải tự tử để được chết trên mảnh đất quê hương.

Sau khi tìm thấy xác, biết chắc Lý Ông Trọng đã chết, Tần Thủy Hoàng đúc một pho tượng đồng khổng lồ hình Lý Ông Trọng tay cầm binh khí, người khoác áo giáp ngồi lên ngựa, chân tay có thể cử động uyển chuyển.

Quân Hung Nô tưởng Lý Ông Trọng cầm quân nên bỏ chạy. Tần Thủy Hoàng sau đó cho chiêu tập thợ giỏi nhất nước đúc tượng Lý Ông Trọng bằng đồng rồi dựng trước cửa Tư Mã ở kinh đô Hàm Dương. Từ đó, người phương Bắc thường gọi những pho tượng lớn là “Ông Trọng”.

Về việc này, sách “Từ Nguyên” của Trung Quốc ghi rõ: “Ông Trọng đời Tần, người Nam Hải, thân dài một trượng ba thước, khí chất đoan dũng, khác với người thường. Vua Thủy Hoàng sai cầm quân giữ đất Lâm Thao, thanh thế chấn động Hung Nô. Ông Trọng chết. Vua sai đúc tượng đồng để ở cửa Tư Mã, coi giữ cung Hàm Dương”.

Với những công lao to lớn đóng góp vào công cuộc dựng nước và giữ nước thời Thục An Dương Vương cũng như những chiến tích giúp Tần Thủy Hoàng diệt trừ Hung Nô nên sau khi mất, Lý Ông Trọng được nhân dân tôn Thánh và lập đền thờ. Uy danh Lý Ông Trọng truyền từ đời này qua đời khác bao trùm cả Âu Lạc đến khắp các vùng Trung Hoa.

Tương truyền, sau khi Lý Ông Trọng mất, Tần Thủy Hoàng đã sai người lập đền thờ trên chính mảnh đất mà Lý Ông Trọng sinh ra - nay là di tích đình Chèm thuộc phường Thụy Phương (Bắc Từ Liêm - Hà Nội). Để tưởng nhớ Lý Ông Trọng, hằng năm, ba làng Thụy Phương, Hoàng Mạc và Liên Mạc đều tổ chức lễ hội đình Chèm theo nghi thức rất trang trọng.

Thậm chí sau này, khi nhà Đường cử Cao Biền - một danh tướng giỏi thuật phong thủy sang làm Tiết độ sứ ở nước ta. Dù đến để cai trị nhưng Cao Biền rất sùng bái Lý Ông Trọng, đã cho sửa sang tu bổ đền thờ được nhân dân xây dựng từ trước đó, tạc thêm tượng gỗ rồi tôn xưng Lý Ông Trọng danh hiệu Lý Hiệu úy.

Trong “Việt điện u linh” chép: Đời Đức Tông nhà Đường, niên hiệu Trinh Nguyên năm đầu, Triệu Xương qua làm Đô hộ nước An Nam ta thường qua chơi làng Vương (làng Chèm), đêm mộng thấy cùng Vương (Lý Ông Trọng) nói chuyện trị dân, và giảng luận sách Xuân Thu tả truyện.

Nhân đó Triệu Xương mới hỏi thăm nhà cũ của Vương hồi xưa, thì chỉ thấy mù khói ngang trời, sông nước mênh mông, rêu phong đường đá, xanh rời cụm hoang, một mảnh nhàn vân phất phơ trên đám cỏ thôn hoa rụng. Ông mới lập lại đền thờ, xưởng cao lầu lớn, rồi chuẩn bị lễ vật đem đến tế Vương.

Đến lúc Cao Biền đánh phá nước Nam Chiếu, Vương thường hiển linh trợ thuận. Cao Biền lấy làm kinh dị, sai thợ trùng tu từ vũ tráng lệ hơn xưa, và chạm khắc tượng gỗ son thếp giống như thực mà đem lễ vật đến tế, từ đó, hương hỏa không khi nào hết.

Niên hiệu Trùng Hưng năm đầu (1285, Trần Nhân Tông), sắc phong “Anh Liệt Vương”, đến bốn năm sau gia phong hai chữ “Dũng Mãnh”, năm Hưng Long thứ hai mươi (1312, Trần Anh Tông) gia phong “Phụ Tín Đại Vương”.

Sao phương Nam soi tỏ phương Bắc


Tương truyền Tần Thủy Hoàng đã cho dựng đền thờ Lý Ông Trọng.

Tương truyền vào những năm thời Càn Long nhà Thanh, có một lần vua Càn Long dẫn theo các Hàn lâm học sĩ đi qua một ngôi mộ cổ, vua chỉ tượng người đá cao lớn ở trước mộ và hỏi đây là người nào. Một Hàn lâm học sĩ trả lời rằng: “Người đá này tên là Ông Trọng”.

Vua Càn Long liền viết bài thơ rằng: Ông Trọng ngày nay gọi Trọng Ông/Hẳn do học hành chẳng dày công/Ngày nay không được làm học sĩ/Phạt đến Giang Nam làm phán thông.

Bài thơ này Càn Long có ý chê viên học sĩ hàn lâm gọi sai tên lẽ ra phải gọi là Trọng Ông (theo cách gọi người Trung Quốc), nên cách chức hàn lâm, giáng chức làm phán thông.

Câu chuyện trên cho thấy đến thời nhà Thanh thì tượng đá Ông Trọng khá phổ biến trong dân gian, nhưng có lẽ cả vị học sĩ và vua Càn Long không biết cái tên Ông Trọng là tên theo cách gọi người Việt, được người các triều đại phương Bắc vẫn gọi theo.

Lý Ông Trọng được tôn làm Thành hoàng làng và được gọi là Đức Thánh Chèm. Tiến sĩ Nghiêm Xuân Quảng viết trên “Thụy Phương đình bi ký” năm 1917 như sau: “Nước càng văn minh thì người càng biết yêu nước tổ, càng biết yêu nước tổ thì càng phải nhớ người xưa, nhớ sinh kính, kính sinh thờ; thờ phải có tượng, có đền.

Người trước làm, người sau sửa, đều bởi phụng sùng bái anh hùng mà ra. Một nước thế các nước cũng đều thế. Nước ta trên dưới hơn bốn nghìn năm, đệ nhất anh hùng xuất hiện ra làm cho nòi giống mình vẻ vang, sử sách mình rõ ràng, không ai hơn Đức Thánh Chèm. Ngài đẻ sinh nước ta mà công nghiệp ở cả nước Tàu, chẳng khác gì một ngôi sao mọc ở phương Nam mà soi sáng phương Bắc”.

Lễ hội đình Chèm diễn ra rất long trọng.

Thân thế và sự nghiệp của Đức Thánh Chèm mang màu sắc huyền bí, phần vì trải qua nghìn năm Bắc thuộc sử sách không còn, những ghi chép về ông hoàn toàn là do đời sau biên soạn, dựa vào truyền miệng dân gian.

Trải qua ngàn năm ngôi đình là nơi linh thiêng, tới thời Lê trung hưng (giai đoạn 1533 - 1789) đình được đại trùng tu, xây dựng bề thế như ngày nay.

Theo một số tư liệu, trước đây đình Chèm nằm trong đê sông Hồng. Tuy nhiên, cách đây hơn 200 năm có sự kiện vỡ đê Chèm nên đê phải đắp lại và đình Chèm thành ra nằm ngoài đê.

Vì ở ngoài đê nên vào những năm nước sông lên cao đình bị ngập, ảnh hưởng tới sự vững bền của đình. Không yên lòng với việc đó dân ba làng Chèm, Hoàng Xá, Liên Xá bàn nhau nâng đình lên cao và gọi là Kiệu đình.

(Theo báo GD & TĐ)

Tag: