VĂN HÓA

Tìm về di sản mỹ thuật truyền thống Nam bộ

Phúc Minh • 04-11-2020 • Lượt xem: 188
Tìm về di sản mỹ thuật truyền thống Nam bộ

Sáng Chủ Nhật ngày 01.11.2020, NXB Văn hóa - Văn nghệ TP.HCM tổ chức chương trình giao lưu "Tìm về di sản mỹ thuật truyền thống Nam bộ" giới thiệu bộ sách: Gốm Cây Mai - Đề ngạn Sài Gòn xưa; Gốm Sài Gòn; Tranh trường Khmer Nam bộ cùng NNC Huỳnh Ngọc Trảng, NNC Huỳnh Thanh Bình và nhóm tác giả.

Mỹ thuật truyền thống Nam bộ gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất này. Nhắc nhớ sự tài hoa của những nghệ nhân, những vật phẩm thủ công mỹ nghệ và hình ảnh mỹ thuật gắn bó với sinh hoạt thường ngày và trọn cuộc đời của mỗi con người. Đội ngũ thực hiện muốn giới thiệu đến quý độc giả về GỐM NAM BỘ & TRANH TƯỜNG KHMER NAM BỘ: Dấu tích xưa xuất hiện của dòng mỹ nghệ chế tác gốm Nam bộ và thị hiếu sáng tác bích họa tranh tường Khmer Nam bộ của những nghệ nhân chuyển biến theo dòng thời gian. Con đường nghiên cứu "điền dã" bền bỉ của tất cả các tác giả được nhắc ở đây lẫn quý đồng sự cộng tác cùng nhau là minh chứng cho ý nguyện cùng nhau tìm lại những dấu vết và viết lại câu chuyện lịch sử của di sản. Cốt yếu là sự tương trợ với nhau nhằm lưu giữ những vốn quý của mỹ thuật truyền thống Nam bộ.

Người Khmer Nam bộ tiếp thu tôn giáo - văn hóa thông qua nghệ thuật tranh tường

NNC Huỳnh Thanh Bình đã dành 10 năm đi đây đó khắp hàng trăm ngôi chùa Khmer Nam bộ để sưu tầm và chắt lọc tư liệu hoàn thành cuốn sách ảnh Tranh tường Khmer Nam bộ. Từ lâu đời, người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Ấn Độ, thông qua đạo Bà La Môn rồi đạo Phật. Văn hóa Ấn Độ thâm nhập vào cộng đồng người Khmer thông qua con đường truyền đạo của các giáo sĩ và thương nhân nên sắc thái văn hóa đó dần dần được Khmer hóa, nhuần nhị như chính sự phát triển tự thân của văn hóa bản địa Khmer. Người Khmer từ lúc mới lọt lòng đến khi trưởng thành và từ giã cõi đời, đều lấy ngôi chùa làm trung tâm cuộc sống. Người Khmer Nam bộ tiếp thu tôn giáo – văn hóa thông qua nhiều con đường trong đó có nghệ thuật tranh tường.

Tranh tường Khmer kế thừa thành tựu nghệ thuật tạo hình truyền thống mà trực tiếp là nghệ thuật trang trí nội ngoại thất tự viện, tranh cuộn trên vải/preah bot, tranh vẽ trên giấy bìa “kờrăng”. Cuốn sách đi sâu vào tìm hiểu về nguồn gốc, lịch sử, nội dung, nghệ thuật và đặc điểm, tính chất của tranh tường Khmer. Tác phẩm còn đề cập đến nghề vẽ tranh tường và tập thành tranh tường do các thế hệ nghệ nhân Khmer tạo tác nội - ngoại thất ở một số chùa tháp Phật giáo Nam tông Khmer tại các tỉnh An Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang... Do đó, tranh tường Khmer độc đáo không chỉ về mặt đề tài mà cả về đặc trưng hình họa, màu sắc và phong cách tạo hình nghệ thuật. Bên cạnh đó, tranh tường Khmer cũng cho thấy thị hiếu thẩm mỹ và cái nhìn mỹ thuật không chỉ của người nghệ nhân tạo tác mà đó còn là của cả cộng đồng người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đặc trưng của dòng tranh tường này luôn biến đổi theo thời gian. Nếu xưa kia tranh tường mang phong cách hội họa dân gian mà đặc trưng của nó là đồ họa hai chiều, tô màu theo từng mảng và nguyên liệu chủ yếu là bột màu, có loại chất màu lấy từ thực vật và khoáng sản tự nhiên. Về sau, tranh vẽ bằng sơn dầu công nghiệp và ngày nay người nghệ nhân đã tận dụng hầu như tất cả các loại sơn có bán trên thị trường với bảng màu cực kỳ phong phú, lại tận dụng màu dạ quang để tăng phần rực rỡ gây hiệu quả trực quan. Đặc biệt về phương pháp tạo hình thời cận đại các nghệ nhân đã tiếp thu phương pháp hội họa hiện đại: áp dụng luật phối cảnh và xử lý ánh sáng tạo nên những bức họa ba chiều. Điều này đã chỉ ra tranh tường Khmer Nam bộ luôn được đổi mới để phù hợp với thị hiếu thời đại của công chúng.

Đây là kết quả điều tra - sưu tầm chủ yếu là phương pháp điều tra điền dã để khảo sát những bức tranh tường cũ lẫn mới, và đồng thời tiến hành phỏng vấn sâu, phỏng vấn hồi cố các nghệ nhân vẽ tranh tường cũng như những vị Acha, sư sãi, các trí thức, cán bộ văn hóa Khmer và người dân Khmer ở các địa phương nói trên. Tuy đề tài mới và lạ nhưng cơ duyên cho ra đời quyển sách này đơn giản chỉ vì tác giả say mê nghệ thuật vẽ tranh trên kiếng của các cộng đồng nghệ nhân ở vùng đất này, đặc biệt là tranh kiếng của các nghệ nhân Khmer ở Trà Vinh, Sóc Trăng. Theo đó, tranh kiếng Khmer lại có cội nguồn từ một truyền thống hội họa cổ xưa và trực tiếp là từ tranh tường ở các chùa tháp. Đó là con đường dẫn dắt tác giả đến với một di sản hội họa phong phú về đề tài lẫn phong cách nghệ thuật. Đó là tranh tường. Thế là phải trở thành nhà nhiếp ảnh mới có thể có đủ dữ liệu để so sánh và đối chiếu… Nhưng công việc biến những hình ảnh biết nói đó thành kiến thức ra sách lại cực kỳ nhiêu khê, từ dòng chảy văn hóa và nguồn văn học, kinh sách Khmer… được cô đọng và kể lại qua những bức tranh sinh động. Những ngày điền dã đó cũng là quá trình hỏi han, trao đổi để có được những kiến thức cần thiết và học hỏi thêm từ người dân bản xứ trên khắp các phum sóc đã dừng chân. “May mắn là bà con mình tốt bụng và hiếu khách lắm, nhờ sự nồng hậu như vậy mà mình mới có được những hiểu biết để viết cuốn sách này” - NNC Huỳnh Thanh Bình kể lại. 


Về NNC văn hóa dân gian Huỳnh Ngọc Trảng thì dài hơi hơn, gần như dành trọn cuộc đời cho những bước chân nghiên cứu "điền dã". Ông cảm nhận rõ ràng hơn thành quả vì từ hôm nay sẽ đón nhận "gia tài chữ nghĩa" cả đời tích góp.  Tưởng chừng như công việc nghiên cứu phải gác lại ở thời điểm tràn đầy hy vọng. Nhưng có bao nhiêu thị lực còn lại, NNC Huỳnh Ngọc Trảng sẽ cống hiến đến cùng. Dành cả đời để nghiên cứu văn hóa dân gian, Huỳnh Ngọc Trảng là cái tên đầy uy tín cho những ấn phẩm viết về nhiều lãnh vực lịch sử văn hóa – nghệ thuật ở vùng đất phương Nam. Bộ sách về GỐM như Gốm Cây Mai - Đề ngạn Sài Gòn xưa; Gốm Sài Gòn, Gốm Lái Thiêu (đang thực hiện) được làm mới thêm nhiều hơn và bồi đắp nhiều bằng chứng rõ ràng hơn trước từ nhiều nguồn tài liệu bổ sung. Bộ sách là sự cộng tác giữa NNC Huỳnh Ngọc Trảng với NNC Nguyễn Đại Phúc, hai cộng sự trẻ  Lưu Kim Chung - Nguyễn Đức Huy, nhà sưu tập Nguyễn Anh Kiệt, nhà sưu tập Hồ Hoàng Tuấn cùng sự giúp sức của nhiều nhà sưu tập… Được nhiều nhà sưu tập cổ vật ủng hộ và giúp sức, kể cả các bạn trẻ tiếp bước con đường nghiên cứu sau này, NNC Huỳnh Ngọc Trảng là điểm tựa và sự truyền nối kiến thức không hề tồn tại khoảng cách với các thế hệ.

“Khi tái hiện lại ba cuốn sách về ba dòng gốm quen thuộc của Nam bộ: gốm Cây Mai, gốm Sài Gòn và gốm Lái Thiêu, chúng tôi cũng gặp không ít khó khăn. Về gốm Cây Mai, gốm Sài Gòn – là những dòng gốm đã thất truyền và ngưng hoạt động từ đầu thế kỷ 20. Cả 3 dòng gốm này đều bắt nguồn từ những di dân người Hoa đến Sài Gòn - Chợ Lớn, Biên Hòa và Bình Dương xưa nên những thư tịch cổ, tài liệu xưa của người Hoa đều bằng chữ Hán. Do đó, để truy tìm chủ nhân của dòng gốm này hầu như vô vọng. Nhưng may mắn thay trong quá trình tìm hiểu chúng tôi đã lần theo các thư tịch cổ, tài liệu xưa cũng như minh văn bằng chữ Hán trên các sản phẩm gốm, chúng tôi đã tìm gặp được một số người là hậu duệ của các nghệ nhân làm gốm xưa và có cơ hội kiểm chứng, đối chiếu với những thông tin thu thập được để sửa chữa, bổ khuyết vào nội dung cho ra các tập sách nêu trên ra mắt đọc giả”. - Lưu Kim Chung chia sẻ.

Gốm Cây Mai - Kẻ tiên phong đắc hữu nhiều kỹ pháp nhất

NNC Huỳnh Ngọc Trảng chọn Gốm Cây Mai là tác phẩm mở đầu cho dòng sách về gốm khởi nguồn từ lý do lịch sử xuất hiện lần lượt của các dòng gốm tại vùng đất Nam kỳ xưa: “Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, tình hình sản xuất gốm ở Nam kỳ được một số tác giả người Pháp đề cập đến trong các tạp chí nghiên cứu và trong các địa phương chí các tỉnh ở Nam kỳ. Đặc biệt tường tận là bài khảo cứu về kỹ nghệ làm đồ đất nung ở Nam kỳ của đại úy công binh Derbès. Nếu Gốm Cây Mai xuất hiện trong lịch sử gốm mỹ thuật Nam kỳ như những kẻ tiên phong đã ảnh hưởng đến các dòng gốm Hậu Cây Mai sau này đáng kể”. Điểm nổi bật của dòng gốm này là sành cứng có men màu với xương gốm chắc bền vững hơn. Bảng màu tuy không phong phú (màu xanh lam, màu xanh ve chai; các màu bổ trợ là màu vàng, màu đen, màu nâu đỏ, nâu và trắng) nhưng tạo ra sắc thái riêng, nằm giữa sự mộc mạc và mỹ lệ, như một tạo tác hình khối mãnh liệt. Đổi lại, gốm Cây Mai sở hữu hầu như tất cả kỹ pháp trang trí để xuất hiện phổ biến khắp các công trình gốm gia dụng, gốm xây dựng, gốm gia dụng bài trí, gốm thờ tự, tượng thờ, tượng trang trí, ngõa tích trang trí… Tiếc thay, các dòng gốm hậu Cây Mai sau này khi quá trình đô thị hóa ở vùng Chợ Lớn phát triển (thiếu nguyên liệu và bất tiện hơn) khiến cho các nghệ nhân hàng đầu của dòng gốm này bước sang công cuộc dịch chuyển về làng nghề Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Thủ Đức…

Gốm Sài Gòn nghệ phẩm thời danh của Hòn ngọc Viễn Đông

Gốm Sài Gòn là tên gọi để chỉ một dòng sản phẩm gốm sứ ra đời từ những thập niên đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, trong thực tế việc sử dụng tên gọi “Gốm Sài Gòn” trong vài thập niên qua đã bị một số nhà nghiên cứu sử dụng tùy tiện: Đồng nhất gốm Cây Mai với gốm Sài Gòn hoặc để chỉ chung cho các sản phẩm của tất cả các dòng sản phẩm gốm sứ đã được sản xuất ở Sài Gòn - Chợ Lớn (hiểu là địa bàn thuộc Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay), hoặc để chỉ dòng sản phẩm gốm sứ bạch dứu ra đời vào nửa đầu thế kỷ XX. Như vậy, do nhân duyên lịch sử, khởi đi từ cái mốc năm 1923, với những tri thức và kỹ năng của đội ngũ nghệ nhân gốm Phong Khê nhập cư vào Sài Gòn - Chợ Lớn đã làm cho dòng gốm bạch dứu phát triển, đạt được dòng sản phẩm chất lượng cao. Gốm Sài Gòn thịnh về  sự lịch lãm và sắc nét với hai gam màu chủ đạo là trắng xanh và ngũ sắc được vẽ trau chuốt và kỳ công. Trong bối cảnh lịch sử đó, chúng được định danh là “Gốm Sài Gòn” – bởi danh xưng Sài Gòn bấy giờ có phần thời thượng của xứ đô hội được mệnh danh là Hòn ngọc Viễn Đông. Cùng chung số phận với Gốm Cây Mai, vào giữa thế kỷ XX dưới sức ép đô thị hóa của vùng Sài Gòn - Chợ Lớn, đồng thời với sự cạn kiệt dần nguồn nguyên liệu sản xuất, nhiều lò gốm buộc phải di dời về tỉnh Thủ Dầu Một (Bình Dương ngày nay) và một số chủ lò vẫn tiếp tục giữ thương hiệu cũ.

Sắp tới, đội ngũ nghiên cứu sẽ sớm hoàn thành tập sách ảnh Gốm Lái Thiêu - một trong những dòng gốm cũng rất nổi tiếng ở vùng đất Nam bộ.

Tuy là “người một nhà”, cùng hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa, NNC Huỳnh Ngọc Trảng và con gái là NNC Huỳnh Thanh Bình có những địa hạt nghiên cứu chuyên sâu riêng. Huỳnh Thanh Bình chia sẻ: “Bố tôi, Huỳnh Ngọc Trảng đã dành nhiều năm tìm hiểu về văn hóa Khmer Nam bộ, song đối tượng chính của ông là văn học dân gian Khmer và thêm vào đó là các loại hình sân khấu. Nói chung, ông chuyên sâu về nghệ thuật biểu diễn của người Khmer. Chính vì vậy, ông khuyên tôi nên đi sâu vào lĩnh vực nghệ thuật tạo hình, đó là cái bố tôi rất thích nhưng chưa làm được. Ông là người cung cấp những hiểu biết cơ bản về lãnh vực này cho tôi. Ông bảo ông là người “chỉ điểm”, song trong thực tế ông chỉ dạy tôi nhiều điều bổ ích để … khởi nghiệp”. Lần đầu Huỳnh Thanh Bình chia sẻ về bố.

Với mong muốn giữ gìn dòng chảy lịch sử - văn hóa - nghệ thuật, đội ngũ các NNC luôn cố gắng đem lại cho công chúng những thông tin xác thực và những kiến thức căn bản, trước sự mai một đã báo động và đang biến mất rất nhanh trong đời sống hiện nay. Qua đó, những tập sách ảnh trên muốn chạm vào cảm xúc và lưu giữ cùng bạn đọc ký ức thời gian của di sản mỹ thuật truyền thống Nam bộ xưa.

Thông tin tác giả:

* NNC Huỳnh Ngọc Trảng

Quê quán: Tịnh Khê, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi

Sinh năm 1952

Là tác giả và chủ biên của hàng loạt tác phẩm, công trình nghiên cứu có giá trị: Đặc khảo tín ngưỡng thờ gia thần; Đọc lại cổ tích; Câu chuyện văn hóa; Sài Gòn - Gia Định: Ký ức, lịch sử, văn hóa; Nghìn năm bia miệng; Khảo luận về Tết; Đồng dao và trò chơi truyền thống; Đình Nam bộ xưa & nay; Gia Định-Sài Gòn: Hò, hát, lý, vè và diễn xướng lễ hội; Tổng tập văn học dân gian Nam bộ (đang thực hiện 4/12 tập); Gốm Cây Mai - Đề ngạn Sài Gòn xưa; Gốm Sài Gòn…

* NNC Huỳnh Thanh Bình

Sinh năm 1985

Tốt nghiệp cử nhân Xã hội học. Đại học Tôn Đức Thắng, 2007

Tốt nghiệp cử nhân Tiếng Anh, Đại học Tôn Đức Thắng, 2012

Tốt nghiệp thạc sĩ Văn hóa học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP.HCM, 2019

Hiện công tác tại Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh

Sách đã xuất bản: Tranh kiếng Nam bộ (2013); Biểu tượng thần thoại về chư thiên và linh vật Phật giáo (2018)