Vườn ươm nghệ thuật

Một thưở chưa xa hoang đường và đẹp đẽ - Tùy bút Lê Quý Nghi

Lê Quý Nghi • 24-07-2021 • Lượt xem: 1267
Một thưở chưa xa hoang đường và đẹp đẽ - Tùy bút Lê Quý Nghi

Lê Quý Nghi là một gương mặt thơ trẻ có phong cách riêng trong thế hệ những cây bút sinh viên TP.HCM thập niên 1990 - 2000 bên cạnh những cái tên như Ly Hoàng Ly, Nguyễn Hữu Huy Nhựt, Minh Trường, Huỳnh Lê Nhật Tấn... Anh đã xuất bản 1 tập thơ có tên 'Hoa Không Mùa' khá ấn tượng. Ngoài thơ, anh còn viết văn xuôi. DDVN giới thiệu một trích đoạn trong tập truyện 'Một thưở chưa xa' anh vừa gửi đến. 

Tin và bài liên quan:

Thi sĩ Lê Quý Nghi, nhà thơ và ngón tay thơ

Hàm Anh, “Ba ngàn thế giới mang mang mắt em buồn”

Giữa thi pháp Nguyễn Quang Thiều và Thanh Tâm Tuyền

Triển lãm Huỳnh Lê Nhật Tấn: Bay ngơ ngác trong Tranh và Thơ

Nguyễn Hữu Hồng Minh và Cao Minh Đức hủy show 'Còn Lại Tình Yêu' tại Đà Nẵng

MỆ TÔI

Năm bảy mươi chín, gia đình tôi đi kinh tế mới, vào vùng Xà Bang, huyện Châu Đức bây giờ. Lúc ấy tôi vừa lên bốn và thằng Núi kế tôi mới đầy hai tuổi. Đến năm tám mốt thì mạ sinh thêm thằng Sao. Lúc này Mệ mới từ Quảng Trị vô chăm chúng tôi để ba mạ đi làm.

Mệ dáng người nhỏ, miệng hơi móm nhưng đôi mắt to và rất sáng. Mệ rất thương chúng tôi, đặc biệt là thằng Sao, bởi nó sinh ra đã bị khiếm thị. Sau hai lần mổ, một con mắt hư hẳn, còn con mắt kia chỉ nhìn thấy mờ mờ. Thường mỗi sáng, ba mạ khoai sắn rồi đi làm. Mệ bắc nhúm gạo nấu nồi cháo loãng múc ra vài lưng chén cho nguội xong mới kêu chúng tôi dậy. Thời đói, đứa nào cũng háu ăn. Mệ nói, ăn cháo chỉ được ăn hai chén, không được ăn ba chén, vì ba cháo là... báo cha, không nên! Vậy là những lần sau chúng tôi ăn hai chén rồi thôi, mà lấy đâu ra ba chén?

Có những ngày mưa dầm, nhà không còn gạo, Mệ lấy bắp khô trữ sẵn từ mùa trước ra hầm, ăn thay cơm. Răng Mệ yếu, rụng hơn nửa nên tôi phải lấy cái ca inox (của lính Mỹ ngày trước), cho bắp hầm vào rồi lấy chày giã cho nhuyễn ra thì Mệ mới ăn được.

Đến bây giờ tôi còn hình dung rõ cái "miệng móm" của Mệ mỗi khi nhai trầu, rất duyên! Mệ ghiền trầu, mỗi ngày Mệ ăn trầu đến năm bảy bận. Nhưng do răng yếu nên phải ngoáy cho mềm ra. Tôi thường phụ trách chuyện này. Mệ gọt cau tươi rồi bửa ra từng miếng nhỏ bằng con dao xếp sắc lẻm. Cơi trầu là cái vỏ đạn to bằng ly uống trà nhưng cao hơn, cây ngoáy trầu như cái chày nhỏ bằng nhôm dốc ngược, dài cỡ gang tay con nít. Mệ cho miếng cau, miếng trầu cuộn nhỏ, một ít vôi và vài sợi thuốc lá vào cơi, vậy là tôi ngồi ngoáy cho tơi ra, quyện vào. Xong, đưa Mệ vén lại móm mém nhai, móm mém duyên!

Năm tám hai tôi vào lớp một, thằng Sao cũng gần hai tuổi. Tôi học buổi chiều, buổi sáng giữ thằng Sao để Mệ lo việc nhà với cơm nước. Tôi hay cõng thằng Sao qua nhà mấy đứa bạn trong xóm chơi, đủ trò con nít: tạc lon, bắn thun, chơi táng, chơi ngáo bằng những đồng xu hay nắp keng, chơi căng-cù (đánh trỏng)... Một bữa, đang chơi căng-cù thì tụi bạn kêu khẻ:

- Tèo, Mệ mi tề!

Tôi quay lại nhìn thấy Mệ đang chậm rãi đi đến, hai tay chắp sau lưng. Liếc nhìn thằng Sao vẫn ngồi chơi một mình trong hiên nhà, tôi yên tâm. Lắp cù vào lỗ, tôi chổng mông chuẩn bị đánh, bỗng nghe một tiếng "vụt", cái mông tôi đau nhói! Bỏ cả căng cả cù, tôi thẳng người lên hai tay ôm mông, nhìn Mệ! (Tôi vẫn thường hay bị Mệ đánh do ham chơi nhưng lần nào Mệ cũng đánh đúng một cây vào mông). Mệ la nhưng không gắt:

- Cõng thằng Sao về ăn cơm rồi đi học, chự em rứa hỡ?

Tôi lật đật vừa xoa mông vừa qua cõng thằng Sao lẽo đẽo về theo Mệ.

Năm tám tư, mạ sinh thêm bé Na, lúc này Mệ lâm bạo bệnh. Chạy chữa bệnh viện Saigon mấy tháng thì bác sỹ trả về. Tôi còn nhỏ không biết nên hỏi ba, bệnh của Mệ hết chưa? Ba nói lớn như để Mệ nghe:

- Mệ khỏe rồi, hết bệnh bác sỹ mới cho về chớ!

Dần dần, Mệ ăn ngày càng ít theo từng cơn đau. Qua Tết năm tám lăm thì Mệ không ăn uống gì nữa. Ngày tám tháng hai âm lịch, ngày Phật xuất gia, Mệ yếu hẵn nhưng tinh thần còn rất minh mẫn. Mệ kêu hết con cháu vào phòng, chỉ trừ thằng Sao. Mệ cấm tiệt, dặn không cho vào! Chiều muộn, các bác trong khuôn hội Phật giáo Xà Bang đến thăm và đọc kinh cầu an. Mệ nằm đó, tay lần chuỗi hạt, miệng mấp máy đọc kinh, đến khoảng hơn bảy giờ tối thì Mệ đi!

Bây giờ, thỉnh thoảng trong mơ tôi vẫn thấy Mệ về với cái "miệng móm duyên", nụ cười hiền từ cùng đôi mắt sáng to. Và, tay Mệ không cầm cây roi nào cả, Mệ cầm cây Phất Trần.

Phụ bản tranh của nhà thơ, họa sĩ Nguyễn Quang Thiều


THẰNG NÚI

Thằng Núi là em kế, sau tôi hai năm. Ba tôi nói, hồi đi kinh tế mới lên vùng rừng núi Khe Sanh, mạ đẻ nó ở đó nên đặt tên như vậy. Gia đình tôi bám trụ Khe Sanh được chừng ba năm thì chịu không nổi nên trốn vào nông trường Xà Bang, cũng kinh tế mới nhưng dễ thở hơn.

Vào nông trường Xà Bang, ba xin làm công nhân khai hoang, còn mạ sức yếu nên sắm đôi gánh buôn cá từ dưới Bà Rịa lên. Gia đình tôi mới vào, ba mạ ngoài bốn bàn tay trắng thì chẳng có tài sản gì. Gia đình tôi được xếp vào ở tạm trong nhà Năm Căn. Nhà Năm Căn là một dãy nhà dài dựng bằng cây sát bìa rừng, mái tranh vách tre, kiểu nhà sàn cách mặt đất tầm nửa thước. Nhà được ngăn thành nhiều ô, mỗi ô khoảng mười lăm mét vuông. Do nhiều gia đình vào trước, đã ra ngoài dựng nhà riêng nên hồi đó chỉ gia đình tôi và một hộ khác, đầu dãy là còn ở lại.

Ngày ba đi rừng, mạ đi buôn, nhiều hôm tối mịch mới về. Tôi mới gần năm tuổi ở nhà giữ thằng Núi. Sáng, sau khi cả nhà ăn bo bo hoặc cơm độn xong, mạ thường để phần lại cho hai anh em tôi ăn buổi trưa. Thằng Núi ít quấy, suốt ngày chỉ lững chững đi quanh sàn nhà, vớ được thứ gì ngồi chơi thứ đó, chơi chán thì lăn ra ngủ. Tôi cũng vậy, có khi chơi cùng nó hoặc chận cửa lại chạy qua bên kia đường đất chơi với đám bạn nhà bên.

Có hôm, ba mạ về muộn, thằng Núi sau khi ngủ dậy lững thững đi tới cái bàn tre, tựa đầu xuống đó rồi khóc. Tôi lại dỗ, nó vẫn cứ khóc! Tưởng nó khát nước, tôi vội rót nước nhưng nó lắc đầu, khóc nhiều hơn. Tôi ra cửa, trời nhá nhem tối, nhìn xa xa vẫn chưa thấy ai về. Quay vào với thằng Núi, nó đã khóc nhỏ hơn nhưng kèm theo là tiếng nấc, từng chặp... Tôi không biết thắp đèn dầu, nghĩ chắc nó đói, tôi chạy qua quờ quạng mấy cái nồi, mới nhớ đã hết nhẵn từ trưa.

Thằng Núi khóc, nấc thêm một hồi nữa rồi ngưng hẳn. Nó gục đầu trên cái bàn tre, bất động. Tôi lay nhẹ, nó không động đậy. Tôi day mạnh hơn, nó vẫn nhắm tịt mắt, không ư hử. Tôi bắt đầu hoảng, lại gọi, lại day rồi lắc lắc cái đầu nó, nó vẫn không có phản ứng gì. Tôi òa khóc. Thôi rồi, thằng Núi chắc đã chết rồi, sao nó không mở mắt ra nữa? Tôi vừa khóc vừa kêu ba ơi, mạ ơi! Đáp lại tôi là tiếng gió rừng rờn rợn và bóng tối đang dần sụp đất.

Tôi ôm thằng Núi, hết nhìn nó rồi lại nhìn ra phía cửa om om...

Ba về, tôi chạy ra mếu máo chưa kịp méc thì thằng Núi nghe tiếng ba lồm cồm đứng dậy. Tôi tròn mắt mừng rơn. Một lúc sau mạ cũng quảy gánh về tới, trong cái mủng nan là hai cái bánh ít đã mềm màu. Tôi lấy một cái, bóc đưa cho thằng Núi. Nó ăn ngấu nghiến ngon lành. Tôi vì mừng quá mà quên cả ăn. Trong nhà, ba đã thắp đèn tự lúc nào.

PHÁO KOHLER

Nhà nước cấm đốt pháo từ đầu năm chín lăm. Năm chín tư, nhà tôi được tặng một phông pháo dài. Bởi lẽ, tôi hay vào phụ quấn giấy bồi hoặc tum pháo giúp thằng bạn học người gốc Quảng Ngãi, xứ làm pháo. Tôi nhớ dây pháo Tết năm đó nổ rền, to nhứt xóm. Nhưng điều tôi nhớ hơn là pháo Tết năm tám chín.

Ba tôi làm công nhân nông trường cao su Xà Bang, mạ buôn ghánh. Đến năm tám bảy thì dành dụm được ít tiền ra Đức Hiệp mua mấy sào đất lập vườn trồng cà phê. Đất Đức Hiệp lúc bấy giờ hoang vắng, rẻ như cho. Ba cất cái nhà chòi, vừa làm công nhân vừa tranh thủ đào hố trồng cà phê. Đến cuối năm tám tám, gia đình tôi nhượng lại căn nhà tre và phần đất mà nông trường cấp cho, rồi ra Đức Hiệp ở hẵn. Ba vẫn làm công nhân, mạ vẫn đi buôn nhưng vì “di cư” thêm lần nữa với một nách năm đứa con nên túng thiếu trăm bề.

Gần Tết năm Kỷ Tỵ (1989), hàng xóm chung quanh đã tất bật sắm Tết nhưng nhà tôi vẫn chưa có gì! Đến chiều ngày hai tám, mạ về quảy theo nào là nếp cùng lá chuối dốp, một rổ củ gừng, bịch đường cùng với hoa quả... Tôi lúc này tuổi đã loai choai, với thằng Núi đẻ sau hai năm, phụ mạ gọt gừng ngâm làm mứt, phụ ba tước lá chuối, vo nếp gói bánh chưng... Tôi ra sân kê đá làm bếp, củi thì khỏi lo vì nhánh cao su khô chất đầy. Rộn ràng đến tận nửa đêm.

Qua đêm hai chín (Tết năm đó không có ba mươi), cả tôi, thằng Núi với thằng Sao háo hức không ngủ, thức đợi giao thừa! Riêng con Na, chưa đầy 5 tuổi nhõng nhẹo một lúc rồi trèo lên ghế, dựa lưng, mắt nhắm tịt. Bé Út đang nằm nôi.

Khoảng mười một giờ rưỡi, tôi phụ ba bày mâm cúng ra sân với xôi, chè, bánh chưng, mứt gừng cùng hoa quả. Mãi sao không thấy ba treo pháo? (Là thế này, những cái Tết năm trước khi mạ mua pháo về sớm, tôi thường len lén bứt trộm từng viên ra đốt chơi với mấy đứa trong xóm. Đến khi lấy ra treo lên đốt giao thừa thì chỉ còn lưa thưa như hàm răng sún, tôi mấy lần ăn roi trước khi được ăn Tết là vậy). Tôi chạy vào hỏi mạ, mạ bảo trễ quá mua không có, quay sang nhìn ba, ba không nói.

Gần tới giao thừa, khi ba thắp nhang cúng cũng vừa lúc tiếng pháo đì đùng gần xa. Ba cúng xong thì tiếng pháo rộ đều lên. Tôi ngồi tiu nghỉu với hai thằng em. Ba trở vô nhà kêu:

- Tèo, phụ ba khiêng cái máy Kohler ra ngoài sân!

Tôi không hiểu, bởi đã tưới cà phê xong từ chiều hôm qua rồi mà, để tránh mấy ngày chơi Tết? Nghĩ vậy nhưng tôi vẫn đi xuống nhà sau:

- Chi vậy ba?
- Cứ khiêng ra đi!

Tiếng pháo vẫn đang xa gần giòn giã.

Tôi với ba khiêng cái máy Kohler 7 ra giữa sân. Ba chế nốt can xăng còn sót lại, lấy cờ lê tháo hẳn ống pô ra rồi quấn dây, giật máy. Lịt xịt hai ba lần cái máy cũng chịu nổ đều. Ba kéo cần ga lên hết cỡ, vặn chốt lại. Lửa khẹt ra từ ống pô chớp lóa, sáng cả một góc sân. Còn tiếng nổ thì...ôi thôi, át cả tiếng pháo đang đì đùng ngoài kia! Chỉ tội nghiệp bé Út, đang nằm ngủ trong nôi khóc thét!

“Pháo Kohler” nổ dòn, đều như vậy cho đến khi hết xăng thì tắt. Ngoài kia, không gian tĩnh mịch, chắc mọi người đi ngủ đã lâu, ngày mai là năm mới!

Lê Quý Nghi 

---------------

(*) Phụ bản chính trên avatar và trong bài là tranh của nhà thơ, họa sĩ Nguyễn Quang Thiều.