Phố Art

Siêu thực trong hội họa Đinh Phong (Kỳ 1)

Nhà nghiên cứu Trần Đán • 10-03-2021 • Lượt xem: 1336
Siêu thực trong hội họa Đinh Phong (Kỳ 1)

Hiện tượng hội họa Đinh Phong gần đây gây nhiều chú ý trong giới mỹ thuật và công chúng yêu tranh. Trên DDVN chúng tôi đã mạnh dạn giới thiệu nhiều ý kiến của các họa sĩ, nghệ sĩ, nhà phê bình nổi tiếng như Nguyễn Quân, Ca Lê Thắng, Nguyễn Thụy Kha, Phạm Long, Trương Nguyên Ngã, Nguyễn Hữu Hồng Minh... Sau đây là bài viết mới nhất của nhà nghiên cứu Trần Đán vừa gửi về từ Mỹ. 

Tin, bài viết liên quan của nhà nghiên cứu Trần Đán: 

Điêu khắc Đào Châu Hải, một bước ngoặc trong nghệ thuật Việt Nam (Kỳ 1)

Điêu khắc Đào Châu Hải, thế giới song hòa sức sáng tạo mãnh liệt (Kỳ 2)

Hội họa hiện đại: cần 'cảm' hay 'hiểu' một tác phẩm nghệ thuật?

Làm nghệ thuật là làm gì? Phải chăng chỉ một mớ hỗn độn? (Kỳ 1)

Tôi không hề muốn gượng ép họa sĩ nào vào khuôn khổ của những trường phái cố định, nhưng đây là do gợi ý của chính tác giả. Anh đã đặt tên cho triển lãm của mình ở Hà Nội là “Người Bay và Giấc Mơ Siêu Thực”. Tuy có cả tranh và tượng nhưng trong bài này tôi chỉ sẽ bàn về tranh của anh. Vậy có phải tranh của Đinh Phong là sản phẩm của thực hành Siêu Thực không? Các sản phẩm đó có ý nghĩa gì, nói lên điều gì? Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu.

Họa sĩ Đinh Phong đang chăm chú nghiên cứu bên một phác thảo tượng mới, tết Tân Sửu. (Ảnh DDVN chụp tại xưởng làm việc của họa sĩ chiều 6.3.2021)

Việc đầu tiên tôi cần xác định: giấc mơ chính nó không có tính siêu thực.  Đối với người đang mơ, như chính họa sĩ thú nhận, nó rất thực. Như chính anh thú nhận. Mơ là trạng thái của não đối chiếu với trạng thái tỉnh. Trong đa phần chúng ta đó là hai trạng thái hoàn toàn khác biệt. Khi tỉnh ta ý thức việc ta làm và tuân theo lý trí và ý chí. Ngược lại khi mơ ta hoàn toàn thụ động, bị kiểm soát bởi những động lực phi-ý-thức, bề ngoài phi lý. Tuy vậy trong một số trường hợp đặc biệt, hai cái trùng nhập như trong những người mộng du. Người mộng du có thể đi trên mái nhà mà không hề ngã, y như lúc họ tỉnh, nhưng khi bừng tỉnh dậy họ không hề hay biết mình đã ra khỏi giường. Còn siêu thực, như ta sẽ thấy dưới đây lại là một phương pháp nghệ thuật nhằm khai thông và phóng thích cái đẹp và ý nghĩa tiềm ẩn trong giấc mơ.

Tượng của họa sĩ Đinh Phong. 

Tự ngàn xưa và từ Đông sang Tây các văn hóa Ai Cập, Ấn Độ , Hy Lạp, Trung Hoa đều có nói đến khả năng dự báo tương lai của mộng.  Điều đáng chú ý là với các nhà tư tưởng Cổ Hy La, việc nghiên cứu về mộng chưa bao giờ được nâng lên thành một môn nghiên cứu nghiêm chỉnh như  triết học, mỹ học, toán học, siêu hình học,v.v…. Chưa bao giờ có môn “mộng học.” Theo tôi có lẽ vì mộng mị là một phạm trù tư tưởng mà lô gích không thể nào nắm được, nên họ đẩy nó vào phạm trù Thơ cho xong! Trong triết học tôi chỉ biết có Trang Tử là dùng giấc mơ để bày tỏ sự nghi ngờ về thực tại khi ông tự hỏi, “Trang Tử nằm mộng hóa thành bướm hay bướm nằm mộng hóa thành Trang Tử.”

Cho đến cuối thế kỷ thứ 19 khi Sigmund Freud viết quyển “Cách Diễn Giải Giấc Mơ” vào năm 1899 thì ta mới có một giải thuyết về cấu tạo của tư duy con người, trong đó giấc mơ đóng một vai trò quyết định.   Theo Freud tư duy gồm 2 thành phần, phần Ý Thức và phần Tiềm Thức. Phần Ý Thức là nơi tích tụ Ego, cái làm nên cá tính, còn phần Tiềm Thức là nơi trú ngụ của Id, cái do bên ngoài tác động đến, hằn sâu trong trí nhớ. Theo ông nếu có sự hòa hợp giữa Ego và Id thì hành vi con người bình thường. Còn nếu Ego và Id xung đột kịch liệt thì hành vi con người sẽ bất bình thường, nhiều khi bị xã hội xem là điên loạn. Nhằm hóa giải các xung đột ấy, ông đề xuất các phương pháp chữa trị như tự thú, liên kết tự do, thôi miên và đặc biệt là giải mộng.

Lần đầu tiên giấc mơ được đề cao trong nghệ thuật hơn bao gì hết là trong Tuyên Ngôn Siêu Thực (1924) của Andre Breton. Trong bản tuyên ngôn ấy ông và các cộng sự đánh giá cao những khám phá của Freud. Nhưng thay vì xem sự va chạm giữa ý thức và tiềm thức là căn nguyên của bệnh tâm thần cần được điều tri, họ lại đế cao nó như ngọn lửa sáng tạo trong nghệ thuật, khai phóng ra Cái Đẹp mới lạ chưa tùng có mà họ đặt tên là Cái Đẹp Siêu Thực.

Một tác phẩm sơn dầu có chiều kích khá lớn của họa sĩ Đinh Phong vừa sáng tác trong dịp tết Nguyên đán, Tân Sửu 2021. (Ảnh: Đông Dương)

Breton định nghĩa Siêu Thực như sau: “Siêu Thực dựa trên lòng tin vào những dạng thức liên thông trước giờ bị xem nhẹ nhưng còn thực hơn thực tại, vào sức mạnh vô song của giấc mơ, vào sự rong chơi vô-vụ-lợi của tư duy.” Và tiếp theo là phương pháp Siêu Thực” “Sự buôn thả tâm lý nhằm biểu hiện trung thực nhất cách tư duy vận hành. Nó khởi động từ tư duy, và không chịu sức ép nào của lý trí hay đạo đức.” Từ những quan điểm triết học về nhân sinh, đóng góp lớn nhất của phái Siêu Thực là đã đề ra một số phương pháp tạo hình cụ thể ứng dụng vào trong nghệ thuật, trước nhất là vào các môn viết (văn, thơ) và sau là các môn nghệ thuật thị giác (họa, điêu khắc, phim, kịch,v.v...) Ta có thể đồng ý hay không với những quan điểm triết học của phái Siêu Thực, nhưng điều quan trọng là qua phương pháp siêu thực, nghệ thuật thế giới đã có được những tác phẩm vô cùng độc đáo.

Một trong các phương pháp tạo hình cơ bản của phái Siêu Thực là “sáng tác tự động”. Phương pháp này cho phép những gì chất chứa trong tiềm thức tuôn chảy ra một cách thuần khiết nhất, không bị kiểm duyệt hay bóp méo bởi hàng rào ý thức bị thao túng bởi lô gích, đạo đức, tôn giáo, v.v…Trong nghệ thuật viết (văn hay thơ) ông tả phương pháp đó như sau; “ Bạn hãy tự đặt mình vào một tâm trạng càng thụ động, càng cởi mở càng tốt. Hãy quên đi cái siêu phàm, cái tài nghệ của mình hay của người khác…Hãy viết rất nhanh, không đề tài định sẵn, nhanh đến độ bạn không thể nhớ được bạn vừa viết gì và không có cơ hội đoc lại những gì bạn vừa viết xong…”  Nếu ta thay thế chữ “viết” bằng chữ “vẽ” thì ra phương pháp vẽ tự động hoặc vẽ vô thức. Phương pháp này được triển khai một cách thử nghiệm bởi  trước hết là họa sĩ Pháp Jean Dubuffet và đạt trình độ bức phá với hai họa sĩ Mỹ của trường phái Trừu Tượng Biểu Hiện Jackson Pollock và Willem de Kooning.  Họ rũ bỏ mọi tính toán, phân tích để chỉ tuân theo trực giác. Họ chấp nhận sự vụng về, thô triển, tránh xa sự chải chuốt, vẹn toàn. Họ mê say hành động, tránh xa suy tư. Vì thế nhà phê bình Harold Rosenberg đặt tên phong cách của họ là “Hội Họa Hành Động.”

Phương pháp tạo hình thứ nhì chủ trương đồng hiện hai thực tại tưởng chừng không liên quan. Một ví điển hình là Magritte vẽ một chiếc xe lửa chạy ra từ một lò sưởi trong một căn phòng trông rất phong lưu, thanh nhã. Breton nhắc đến lời của người bạn Pierre Reverdy: “Hình ảnh là hoàn toàn do tư duy sáng tạo ra. Nó không sinh ra từ so sánh giữa hai thực tại, mà do sự ghép chúng lại gần. Liên hệ giữa hai thực tại đó càng xa vời nhưng thật, năng lượng cảm xúc và chất thơ chúng tạo ra càng sung mãn.” Phương pháp này đã được các họa sĩ De Chirico, Magritte, Delvaux và Dali khai thác xuất sắc.

Họa sĩ Đinh Phong trong xưởng làm việc của anh.  

Vậy có phải tranh của Đinh Phong là sản phẩm của thực hành Siêu Thực không? Các sản phẩm đó khơi dậy cảm xúc gì? Toát ra ý nghĩa gì?

(Còn tiếp)

Nhà nghiên cứu Trần Đán