Khi ta còn mồ côi ( When we were orphans) – Kazuo Ishiguro

Diên Vĩ
30/07/2026
322 lượt xem
Chương 1

Đây là sản phẩm của “Xưởng dịch thuật”, nằm trong chương trình workshop “Dịch Thích Dịch Hay”.

Phần 1

LONDON, NGÀY 24 THÁNG 7, 1930

Chương 1

Chính cái mùa hè năm 1923 ấy, cái mùa hè mà tôi rời Cambridge đến London, dù dì tôi cũng muốn tôi quay về Shropshire. Tôi quyết rằng tương lai của tôi phải ở ngay tại thủ đô này, rồi tôi tìm thuê một căn hộ nhỏ số 14b trên đường Bedford Gardens khu Kensington. Ngẫm lại, đó quả là một mùa hè tuyệt đỉnh. Sau bao năm tháng phải ngụp lặn trong biển người từ trường học đến tỉnh Cambridge, không có gì bằng cái cảm giác chỉ còn một mình tôi với tôi. Tôi thích công viên London, phòng đọc yên tĩnh tại bảo tàng Anh; Tôi cho phép mình tiêu tán cả buổi chiều rảo bước trên khắp các nẻo đường phố Kensington, vẽ ra trước mắt mình những kế hoạch cho ngày sau, ngừng lại chốc lát để chiêm ngưỡng, giữa chốn thành đô phồn hoa xứ Anh Quốc này, những dây leo và những nhành thường xuân vẫn bám phủ lên mặt tiền những ngôi nhà tráng lệ kia.

Trong một lần thong thả dạo phố như thế, tôi tình cờ gặp lại James Osbourne, trước là bạn cùng trường, nay hóa ra lại là hàng xóm. Tôi ngỏ ý nếu lần sau cậu ấy có tiện đường thì ghé thăm tôi. Trước đây tôi chưa bao giờ tiếp khách tại nhà trọ, nhưng tôi vẫn tự tin đưa ra lời mời cậu ta tới, bởi tôi đã chọn chỗ ấy khá cẩn thận. Giá cả thì không bao nhiêu, thế nhưng, cô chủ lại bài trí căn phòng không phô trương, gợi lên cho người ta thấy một thời Victoria thư thả đã qua; phòng khách, luôn ngập  ánh mặt trời đến quá trưa, với chiếc trường kỷ đã cũ, hai chiếc ghế bành êm ấm, cái tủ chén cổ, cái giá sách bằng gỗ sồi đầy những cuốn bách khoa toàn thư mục nát, bao nhiêu đấy, tôi tin rằng vị khách nào rồi cũng sẽ hài lòng. Hơn nữa, ngay khi lấy phòng, tôi liền đến Knightsbridge để sắm ngay mấy túi trà ngon và hộp bánh quy to từ cửa hàng trà Queen Anne. Vậy nên, khi Osbourne đã ghé thăm vào một buổi sáng vài ngày sau đó, tôi đã có thể yên lòng thết đãi anh một bữa trà ra hồn, anh không thể nào ngờ rằng anh lại là người đầu tiên ghé thăm tôi. 

Trong suốt mười lăm phút, Osbourne cứ đi đi lại lại trong phòng khách, khen ngợi tôi biết chọn phòng, cứ nhòm này ngó kia, chốc chốc cứ nhìn ra cửa để trầm trồ về những gì diễn ra bên dưới đó. Rồi anh ngồi phịch xuống  trường kỷ, chúng tôi hỏi thăm tình hình lẫn nhau, hay những người bạn học khác. Tôi nhớ chúng tôi còn dùng ít thời gian để bàn về mấy hoạt động của nghiệp đoàn công nhân trước khi đắm chìm vào cuộc thảo luận dông dài nhưng thú vị về triết học Đức, chúng tôi phô bày được cái bản lĩnh trí tuệ mà chúng tôi đã lượm lặt được tại trường đại học. Osbourne đứng dậy, lại tiếp tục bước tới bước lui, tuyên bố các kế hoạch tương lai. 

“Tôi nghĩ đến việc xuất bản, cậu à. Đại loại như báo chí hay tạp chí ấy. Tôi thật muốn tự tay viết một chuyên mục. Về chính trị, về các vấn đề xã hội. Đấy là giả như tôi không đi theo nghiệp chính trường. Mà tôi nói này, cậu Banks, cậu thật sự không biết mình muốn gì sao? Thử nhìn mà xem, mọi thứ đều ở ngoài kia chờ chúng ta” Anh hất mặt về hướng cửa sổ, “ Chắc cậu phải có tính toán gì rồi chứ.” 

“Chắc vậy” Tôi mỉm cười nói. “Tôi cũng có vài dự định trong đầu. Rồi đến lúc tôi sẽ cho cậu biết.”  

“ Cậu âm mưu gì đây? Nói tôi nghe nào! Không là tôi sẽ nhằn đến khi nào cậu khai thì thôi!

Nhưng tôi chẳng hé miệng dù chỉ nửa lời. Được một lúc thì tôi lại đưa anh ta về các cuộc tranh luận về triết học và thi ca, hay những thứ đại loại vậy. Sau đó khoảng trưa trưa, Osbourne chợt nhớ mình có hẹn ăn trưa ở khu Piccadilly và bắt đầu thu dọn đồ đạc. Ngay lúc anh ra khỏi cửa, anh ngoái lại bảo:

“ Bạn tôi ơi, tôi tính nói với cậu chuyện này. Tối nay tôi sẽ dự buổi tiệc vinh danh ông Leonard Evershott. Chắc cậu biết lão trùm ấy. Ông chú tôi đứng ra tổ chức ấy mà. Biết là hơi gấp, nhưng không biết cậu có muốn đi cùng tôi không. Thật đấy, tôi định qua cậu chơi lâu rồi mà mãi không sắp xếp được. Buổi tiệc sẽ tổ chức ở Charingworth nhé.”

Khi tôi không ngay lập tức phản hồi, anh ta bước đến tôi và nói:

“ Tôi nghĩ đến cậu vì mấy cái chuyện lúc trước. Lúc nào cậu cũng hay tra hỏi tôi về việc tôi “quen biết rộng”. Thôi nào, cứ như câu quên rồi vậy. Lúc cậu tra hỏi tôi thì có nương tay chút nào đâu. “ Quan hệ rộng à? Quan hệ rộng là thế nào ấy nhỉ?” Thế tôi mới nghĩ còn lúc nào tốt hơn lúc này để cái cậu Banks năm ấy tận mắt thấy thế nào là “quan hệ rộng”. Cậu ta nói trong khi lắc đầu như đang liên tưởng tới những chuyện cũ: “ Lạy chúa tôi, lúc ở trường cậu cứ dở hơi sao đấy.”

Tôi tin rằng chính lúc ấy, cuối cùng tôi đã nhận lời đề nghị đi cùng cậu tối hôm đó. Tôi phải nói rõ rằng cái buổi tối ấy đã mang một ý nghĩa trọng đại hơn khi ấy tôi có thể hình dung được. Khi đó, tôi tiễn cậu về mà không thể hiện dù chỉ một chút bức bối vì những lời cuối cùng của cậu. 

Sự bực bội của tôi càng lớn hơn khi tôi ngồi lại trong nhà. Lúc đó, tôi biết ngay Osbourne ám chỉ điều gì. Lúc còn ở trường, tôi cứ nghe người ta nói đi nói lại rằng Osbourne quan hệ rộng lắm. Cứ nhắc đến cậu ta là chắc chắn cụm từ đó xuất hiện. Tôi tin rằng chính tôi cũng dùng những chữ ấy để nói về cậu ấy khi thích hợp. Đó thật sự là một khái niệm cuốn hút tôi, cái ý niệm bằng một cách bí ẩn nào đó mà cậu ta lại quen biết với tầng lớp thượng lưu trong khi cậu cư xử và trông chẳng khác gì đám chúng tôi. Mà không thể tưởng tượng được tôi lại có thể tra hỏi không chút nương tay như cậu ấy nói. Đúng là tôi thường hay nghĩ đến việc ấy khi tôi mười bốn hay mười lăm tuổi, nhưng tôi và Osbourne có thân đến mức ấy đâu cơ chứ. Theo như tôi nhớ, tôi chỉ nói với cậu ta một lần duy nhất.

Đó là một chiều thu mờ sương, hai chúng tôi ngồi chỗ bờ tường thấp của một quán trọ bình dân. Tôi đoán rằng chúng tôi phải đang học lớp mười. Chúng tôi được giao cho việc hướng dẫn chỉ đường trong một cuộc thi chạy băng đồng, chúng tôi đợi cho các vận động viên chạy ra từ cánh đồng gần đó trong lớp sương mù để chỉ họ về đúng hướng với làn đường lầy lội. Chúng tôi không nghĩ là sẽ có ai chạy đến đây giờ này nên cứ ngồi đó mà tán dóc. Lúc đó chứ không lúc nào khác, tôi chắc chắn, chính lúc đó tôi đã hỏi Osbourne về cái “quan hệ rộng” của cậu ấy. Osbourne, tuy là sôi nổi, nhưng là người khiêm tốn, cậu tìm cách nói lảng qua chuyện khác. Mà tôi cứ lầy ra đó cho đến khi cậu phải nói:

“ Đủ rồi, Banks. Toàn mấy thứ vớ vẩn, chẳng có gì để phải nghĩ nhiều tới. Tôi đơn giản là biết vài người. Tôi biết ba mẹ tôi, các chú các bác, và bạn của gia đình tôi thôi. Có gì mà cứ phải xoắn lên như vậy.” Cậu ta chợt nhận ra những gì mình vừa nói,cậu vội quay lại đặt tay lên tay tôi. “ Thành thật xin lỗi nhé, bạn tôi ơi. Tôi thật vô duyên hết sức”

Có lẽ câu nói hớ đấy làm Osbourne bận tâm nhiều hơn cả tôi. Thật ra, không thể bỏ qua khả năng những câu nói vô tình ấy đã đeo bám lương tâm cậu ta suốt chừng ấy năm, việc cậu ấy mời tôi đi Charingworth vào tối hôm đó là cách cậu muốn chuộc lỗi của mình. Tuy nhiên, tôi phải nói rằng, tôi không hề giận về những lỡ lời của cậu ta vào buổi sáng mờ sương ấy. Thật ra, tôi lại bắt đầu bực bội khi một số bạn học sẵn sàng đùa cợt gần như không chừa một nỗi bất hạnh nào lại trở nên nghiêm trang khi nhắc đến sự vắng mặt của cha mẹ tôi. Nghe lạ lắm nhỉ, sự thiếu vắng cha mẹ hay bất kỳ một người thân nào ở Anh Quốc ngoài người dì ở Shropshire lại không hề là một sự bất tiện đối với tôi. Tôi hay nói với các bạn rằng, chúng ta ở trường nội trú, chúng ta đều quen với việc không sống chung với cha mẹ, thế thì chuyện tôi có gì lạ đâu. Mà có sao đi nữa, giờ nhìn lại, có thể tôi hay bị lôi cuốn vào cái việc “quan hệ rộng” của Osbourne là do sau này tôi nhận thức được rằng tôi chẳng còn ai bên ngoài trường thánh Dunstan. Tôi sẽ không chút vướng bận, ngay khi thời điểm đến, tôi rồi sẽ dựng được những mối quan hệ  giống như vậy theo cách của mình. Cũng có thể tôi nghĩ rằng tôi sẽ học được gì đó từ Osbourn về cách mọi thứ vận hành.

Khi tôi nói những lời Osbourne có phần xúc phạm tôi khi cậu ta ra về, tôi không có ý nhắc đến việc cậu ta nói tôi đã “tra hỏi” cậu ta hồi đó. Mà tôi muốn nói đến cái nhận xét rất bâng quơ rằng tôi là một kẻ “ dở hơi sao đấy”

Tôi thật sự thắc mắc vì sao Osbourne lại nói về tôi như vậy sáng hôm ấy, bởi vì trong trí nhớ, tôi đã hòa nhập hoàn toàn vào môi trường học đường của Anh. Ngay cả trong những tuần đầu nhập học tại trường thánh Dunstan, tôi không tin rằng mình đã làm gì mất mặt. Đúng cái ngày đầu tiên, tôi nhớ lại rằng mình đã để ý cung cách cư xử của mấy cậu trai khác khi họ đứng nói chuyện, hay đút một tay phải vào túi áo ghi lê trong khi nhấp nha nhấp nhổm vai trái giống như đang nhấn mạnh những gì mình đang luận bàn. Tôi nhớ rõ tôi đã lặp lại những hành động này trong ngày đầu đó điêu luyện đến nỗi chẳng ai thấy gì lạ hay nghĩ đến chuyện giễu tôi.

Được thế làm tới, tôi nhanh chóng tiếp thu những cử chỉ, lối nói cũng như cách cảm thán được nhiều những đứa bạn xung quanh sử dụng, rồi tôi cũng nắm bắt được cả những chuẩn mực và phép tắc sâu xa đang chi phối môi trường mới của mình. Tôi hẳn sớm nhận ra đây không phải là lúc tôi có thể công khai đắm mình vào những suy nghĩ của tôi về tội phạm và phá án như tôi hay làm ở Thượng Hải, đến nỗi, có một loạt các vụ trộm cắp vặt diễn ra lúc tôi học năm ba, trong trường ai cũng thích điều tra phá án. Thế nhưng tôi phải vô cùng cẩn trọng chỉ tham gia lấy lệ. Và có lẽ không chút nghi ngờ, một phần nào đó của sự kiềm chế này đã khiến tôi không tiết lộ “kế hoạch tương lai” vào cái buổi sáng mà Osbourne thăm tôi.

Tuy dè dặt như vậy chứ tôi nhớ có ít nhất hai lần, cho thấy tôi hẳn đã buông lỏng cảnh giác đến độ lộ ra một phần nào tham vọng của mình. Ngay lúc đó, tôi không lý giải được việc mình làm, cho đến hôm nay, tôi không hiểu được thêm chút nào về nó. 

Lần đầu tiên tôi sơ hở như vậy là vào sinh nhật lần thứ mười bốn của tôi. Hai cậu bạn thân của tôi lúc ấy là Robert Thornton-Browne và Russell Stanton, họ đưa tôi đến tiệm trà trong làng để chúng tôi có thể thưởng thức món bánh scone và bánh kem. Lúc ấy là một buổi chiều mưa thứ bảy, các chỗ ngồi khác đều có người. Cứ vài phút thì sẽ có thêm vài người dân làng ướt như chuột lột bước vào cửa, nhìn xung quanh, rồi họ sẽ nhìn chúng tôi một cách khó chịu giống như để chúng tôi phải nhường bàn cho họ. Nhưng bà chủ tiệm, bà Jordan, luôn thân thiện với chúng tôi, thêm nữa đó là sinh nhật của tôi, chúng tôi thấy mình hoàn toàn có quyền ngồi ngay ô cửa sổ lồi nhìn ra trung tâm làng. Tôi lại không nhớ chúng tôi nói gì với nhau, nhưng khi cả đám no căng bụng, hai cậu bạn của tôi nhìn nhau, sau đó Thornton Browne thò tay vào túi đeo để lấy món quà sinh nhật được gói kỹ càng cho tôi. 

Ngay khi bắt đầu bóc quà, tôi nhận ra nó được gói bằng rất nhiều lớp giấy, mấy cậu bạn của tôi cười ồ lên mỗi khi tôi tháo xong từng lớp, từng lớp một, để lại thấy thêm một lớp khác. Điều này chứng tỏ rằng tôi sẽ có một món quà vớ vẩn nào đó dưới lớp giấy sau cùng. Sau một hồi thì tôi thấy một chiếc hộp da cũ kỹ, khi tôi mở chiếc khóa nhỏ xíu và bật nắp hộp lên, một chiếc kính lúp.

Giờ đây nó đang ngay trước mắt tôi. Hầu như diện mạo của nó không thay đổi mấy theo năm tháng. Ngay từ buổi chiều hôm đó, nó như đã từng đi đông đi tây. Tôi nhớ rằng đã để ý đến điều đó, chiếc kính vô cùng mạnh mẽ, nặng tay đến kinh ngạc, cũng như cái cán bằng ngà mẻ dọc một bên. Sau này tôi mới để ý được cái kính lúp được sản xuất tại Zurich vào năm 1887, phải cần đến cái kính lúp thứ hai để thấy được dòng chữ khắc này.

Phản ứng ngay lúc đó của tôi là một sự hứng khởi kinh khủng. Tôi chộp lấy cái kính sau khi đẩy cả mớ giấy gói quà đã phủ kín cả mặt bàn qua một bên. Tôi nghĩ rằng có vài tấm giấy còn rớt cả xuống đất trong cơn phấn khích của tôi. Tôi phải ngay tức khắc soi thử cái kính lúp lên vết bơ nhem nhuốc trên tấm khăn trải bàn. Tôi mải mê với món quà mà chỉ lờ mờ thấy mấy cậu bạn đang cười một cách thái quá, điều này báo hiệu một trò đùa đang nhắm vào tôi. Đến lúc tôi  ngượng ngùng ngẩng mặt lên thì họ đã im lặng bối rối. Ngay lúc đó, Thornton Browne cười khẩy gượng gạo nói:

“ Bọn tôi cứ đinh ninh rằng thể nào cậu cũng cần một cái như thế cho cái nghiệp thám tử của mình”

Tôi ngay lúc đó đã lấy lại được phong độ của mình để thể hiện rằng tôi chỉ hùa theo trò đùa thú vị của họ. Nhưng tôi cho rằng hai người bạn của tôi bắt đầu lúng túng với ý đồ của họ vì suốt buổi trà sau đó, chúng tôi không còn tự nhiên với nhau.

Như đã nóii, tôi cầm cái kính lúp ấy ngay trước mặt mình. Tôi đã dùng đến nó khi điều tra vụ Mannering; rồi gần đây nhất, tôi lại dùng cho vụ Trevor Richardson. Kính lúp không phải là một dụng cụ thiết yếu như người ta thần thánh hóa, nhưng nó lại hữu dụng trong việc thu thập vài loại chứng cứ. Tôi cho rằng, ít nhất thêm một thời gian nữa, tôi sẽ vẫn mang bên mình món quà sinh nhật mà Robert Thornton Browne và Russell Stanton đã tặng tôi. Trong lúc nhìn ngắm nó, tôi chợt nghĩ, nếu đây là cách họ muốn cười tôi, vậy thì hay thật, họ mới chính là kẻ đáng bị cười. Buồn thay, giờ thì tôi không còn cách nào để biết họ đã thực sự nghĩ gì. Hay mặc cho sự thận trọng của tôi, họ đã hé thấy được tham vọng ấy của tôi. Stanton đã khai man tuổi của mình để đi lính, cậu chết ở trận Ypres thứ ba. Tôi nghe Thornton Brown chết vì bệnh lao hai năm trước. Dẫu sao, cả hai cậu đều rời trường thánh Dunstan vào năm thứ năm, tôi đã mất liên lạc với họ từ rất lâu cho đến khi hay tin về cái chết của họ. Tôi vẫn nhớ mình đã thất vọng thế nào khi Thornton Browne rời trường. Cậu ấy là người bạn tốt duy nhất mà tôi từng quen kể từ khi đặt chân tới Anh đến nay. Trong những tháng ngày học trò còn lại ở trường thánh Dunstan, tôi nhớ cậu ấy nhiều lắm .

 Lần thứ hai tôi nghĩ rằng mình bị lộ diện xảy ra vài năm sau đó, khi tôi học năm đầu lớp sáu, mà tôi cũng chỉ nhớ mang máng mà thôi. Ngẫm lại, tôi không hề nhớ bất kỳ chuyện gì trước và sau thời điểm này. Tôi chỉ nhớ một lần mình bước vào phòng học, phòng số 15 khu Old Priory, ánh nắng tràn vào thành từng dải qua những ô cửa hành lang hẹp có mái vòm, làm lộ cả những lớp bụi lửng lơ trong không trung. Thầy giáo vẫn chưa vào lớp, nhưng có lẽ tôi đến lớp trễ một chút vì tôi thấy bạn tôi tụm năm tụm ba trên mặt bàn, ghế, hay thành cửa sổ. Tôi đang tính nhập hội với một nhóm năm hay sáu cậu. Ngay lúc đó, họ đều quay mặt về hướng tôi khiến tôi nhận ra họ đang nói chuyện về mình. Tôi chưa kịp nói gì thì cậu Roger Brenthurst trỏ vào tôi mà nói:

“ Chắc hẳn rằng Sherlock thì không thể nào lùn thế này.”

Có vài tiếng cười không hẳn có gì ác ý, và mọi chuyện theo tôi nhớ chỉ là thế. Tôi chẳng nghe thêm bất kỳ một lời nào về việc tôi nuôi mộng trở thành “Sherlock,” Nhưng một khoảng thời gian sau đó tôi luôn bận tâm rằng bí mật của mình đã lộ và trở thành đề tài để mọi người bàn tán sau lưng tôi.

Nhân tiện mà nói, việc tôi dè dặt về toàn bộ những gì có liên quan đến tham vọng của tôi đã được khắc sâu trong tôi ngay cả trước khi tôi đến trường thánh Dunstan. Tôi đã dành phần lớn thời gian của mình trong mấy tuần đầu khi vừa đến Anh để lang thang quanh khu đất chung  gần nhà dì tôi ở Shropshire, giữa những bụi dương xỉ ẩm ướt để diễn lại những vụ án trinh thám mà Akira và tôi đã dựng lên cùng nhau ở Thượng Hải. Hiển nhiên là giờ chỉ còn mình tôi, tôi có trách nhiệm đóng luôn vai của cậu ta. Hơn nữa, tôi đã ý thức được việc mình có thể bị nhìn thấy từ nhà dì nên tôi cũng đủ tỉnh táo để diễn những màn ấy với những cử động chừng mực, lẩm nhẩm lời thoại, khác biệt hoàn toàn với cách thức phóng túng quen thuộc đối với Akira và tôi.

Cẩn thận vậy đấy, thế mà vẫn chưa đủ. Một buổi sáng, từ căn phòng áp mái dì sắp xếp cho tôi, tôi nghe được cuộc đối thoại của dì và vài người bạn trong phòng khách. Họ bất chợt hạ giọng làm dấy lên sự tò mò của tôi, chẳng mấy chốc tôi đã rón rén ra chiếu nghỉ cầu thang và dựa sát vào lan can.

“Nó cứ đi lang thang cả tiếng đồng hồ” Tôi nghe dì nói. “ Ở tuổi này mà cứ chìm đắm trong thế giới của mình như thế thì không lành mạnh chút nào. Nó phải bắt đầu nhìn tới tương lai chứ.”

“Nhưng chuyện này có xảy ra thì cũng dễ hiểu thôi, chắc chắn rồi.” Ai đó nói. “Thằng bé đã trải qua bao nhiêu chuyện.”

“Cứ ủ rủ thế thì làm được gì chứ,” Dì tôi nói. “ Nó may mắn là có người lo cho rồi. Đến giờ thì nó phải sống tiếp chứ. Tôi sẽ chấm dứt cái trò tự dằn vặt này.”

Từ ngày hôm đó trở đi, tôi không đến khu công viên, nói chung, tôi để ý tránh những biểu hiện của việc “tự dằn vặt”. Nhưng tôi vẫn là một thằng nhóc. Đến tối, khi tôi nằm trên khu gác xép đó, trong tiếng ván gỗ cọt kẹt mỗi khi dì tôi bước đi vặn đồng hồ hay chăm mấy con mèo, tôi vẫn hay hình dung lại trong trí tưởng tượng của mình về những vở kịch trinh thám đúng như cách mà Akira và tôi vẫn hay diễn.

Nhưng đã đến lúc tôi nên quay lại cái ngày hè mà Osbourne ghé thăm tôi tại căn hộ phố Kensington. Tôi không muốn nói rằng lời nhận xét tôi “cứ như dở hơi sao ấy” làm phiền lòng tôi quá lâu. Thật sự là tôi đã đi ra ngoài sau khi Osbourne rời đi được một lúc với một tâm trạng rất tốt, chẳng mấy chốc tôi thấy mình ở công viên thánh James, khi đang dạo giữa những luống hoa, tôi háo hức chờ đợi cho buổi tối. 

Nghĩ lại buổi tối hôm đó, tôi cho rằng mình hoàn toàn có quyền cảm thấy lo lắng đôi chút. Việc tôi đã không cảm thấy như vậy hẳn là biểu hiện điển hình cho sự ngạo mạn xuẩn ngốc đã đưa tôi qua những ngày đầu ở London. Và đương nhiên tôi nhận thức được rằng buổi tối hôm đó là một cái gì đó khác với những buổi học ở đại học. Tôi hoàn toàn có thể phải đối mặt với những phép tắc mà tôi chưa biết đến. Nhưng tôi tự tin rằng với sự cảnh giác của mình, tôi sẽ đáp trả được mọi khó khăn, thông thường thì tôi sẽ lo liệu được một cách ổn thỏa. Nhưng cũng có những băn khoăn khác khi tôi đang lượn lờ ở công viên. Khi Osbourne đề cập đến những người khách “nhiều bạn bè”, tôi nghĩ đến ngay phải có chí ít vài thám tử đại tài tham dự. Tôi thấy vậy nên tôi đã dùng phần lớn chiều hôm đó để tập luyện sẽ nói gì giả như tôi được giới thiệu với Matlock Stevenson, hay thậm chí là giáo sư Charleville. Tôi cứ tập đi tập lại để làm sao tôi có thể khiêm tốn với một sự vinh dự nhất định khi thể hiện khát vọng của tôi. Tôi còn nghĩ đến có một vị nào đó sẽ quan tâm tôi như một người cha với đủ các kiểu khuyên nhủ và nói tôi hãy đến tìm ông mỗi khi tôi cần sự dẫn dắt.

 Và cố nhiên, buổi tối hôm đó là một nỗi thất vọng trầm trọng. Bạn sẽ thấy dù rằng nó mang một ý nghĩ lớn nhưng với một lý do hoàn toàn khác. Điều tôi không biết lúc đó rằng các vị thám tử thường không tham dự các buổi hội họp xã giao ở cái đất nước này. Không phải họ không được mời. Với những kinh nghiệm sau này tôi sẽ nói thẳng rằng các hội nhóm sành điệu luôn luôn cố gắng chiêu mộ những thám tử đang lừng danh lúc ấy. Thật ra những vị thám tử lừng danh ấy lại ngay thẳng, họ hay ẩn cư để cống hiến cho công việc mà ít khi giao du với người khác chứ đừng nói chi “thế giới hào nhoáng” ngoài kia. 

Như tôi nói đấy, những điều trên không phải là việc tôi thấy ngay khi bước chân vào câu lạc bộ Charingworth tối hôm ấy. Tôi bắt chước Osbourne vui vẻ chào người gác cửa trong bộ đồng phục hào nhoáng. Giấc mộng của tôi mau chóng vỡ tan trong giây phút đầu tiên khi chúng tôi hòa vào đám đông ở lầu một. Tôi không nhớ rõ vì sao tôi lại như vậy vì tôi không có thời gian để xác định danh tính của bất kỳ một vị khách nào có mặt hôm đó, chỉ là có một cơn thức tỉnh thoáng qua làm tôi nhận thấy sự đần độn tột độ của mình về những hứng khởi trước đó. Tôi chợt nhận ra làm gì có chuyện như tôi hy vọng rằng thám tử Matlock Stevenson hay giáo sư Charleville gật đầu tán thành với mấy tay tài chính và quan chức chính quyền mà tôi nhận biết xung quanh đây. Tôi chưng hửng bởi sự khác biệt giữa cái sự kiện mà tôi đang tham gia và cái sự kiện tôi mơ tưởng tới nguyên một buổi chiều.Mọi sự bình tĩnh dù chỉ trong chốc lát đã tiêu tán trong tôi, và suốt cả nửa giờ, tôi lấy làm bực bội vì mình không thể nào rời khỏi Osbourne nửa bước.

Tôi chắc rằng cái trạng thái bức bối của tôi lý giải được vì sao khi tôi nhìn lại buổi tối hôm đó, có nhiều điều dường như bị phóng đại hay nghe rất thiếu tự nhiên. Như căn phòng mà tôi hình dung thấy lại tối một cách bất thường. Tuy trên tường có đèn, trên bàn có nến, đèn chùm ngay trên đầu chúng tôi, nhưng không có gì đủ ảnh hưởng đến cái bóng tối bao trùm kia. Thảm thì lại rất dày, thế nên khi người ta đi lại trong phòng, họ phải kéo lê chân, Những lão tóc muối tiêu trong bộ trang phục đen đúa đều phải làm thế. Có người phải rướn vai về phía trước như đang đi qua giông bão. Mấy tay bồi bàn cũng vậy, họ ngả người lắng nghe những cuộc đối thoại với những góc độ kỳ lạ trong khi cầm cái mâm bạc trên tay. Không có nhiều các quý bà ở đây, những người tôi thấy được thì không hiểu vì sao lại tự làm mình cách biệt mờ nhạt, họ tan biến như cánh hoa giữa rừng gươm đen lòm.

Tôi xin nhắc lại rằng những cảm giác ấy không thật chính xác, đó là những ký ức còn sót lại về buổi tối hôm ấy. Tôi nhớ rằng mình đứng như trời trồng ngoài trời lạnh ngắt, liên tục nhấp rượu trong khi Osbourne nói mải miết hết người này đến người khác, đa số họ phải lớn hơn chúng tôi đến ba chục tuổi. Tôi cũng cố chen vào đôi lần nhưng lúc nào giọng tôi cứ the thé như đứa con nít, mà họ chỉ toàn nói đến những người, những việc tôi chẳng biết gì.

Một lúc sau, tôi nổi điên với chính mình, với Osbourne cũng như với tất cả cái buổi tối hôm đó. Tôi cảm thấy mình có quyền khinh ghét tất cả, cả một đám đa số là thứ tham lam và ích kỷ, chẳng hề tồn tại một lý tưởng hay trách nhiệm với xã hội nào cả. Sự tức giận như châm dầu vào lửa, tôi tách mình ra khỏi Osbourne để đi vào cái góc phòng tối tăm kia. 

Chỗ tôi đứng chỉ le lói một chút ánh sáng từ cái đèn nhỏ bé trên tường. Chẳng mấy ai đứng đây nhưng tôi để ý đến một ông già có lẽ đã ngoài bảy mươi tóc bạc trắng đang dựa tường hút thuốc. Phải gần một phút tôi mới biết rằng ông đang nhìn vào gương, cùng lúc đó, ông thấy tôi đang nhìn ông. Tôi vội bỏ đi nhưng ông nói mà vẫn không quay mặt nhìn tôi:

“ Cậu có thấy gì vui không?”

“ Vâng, rất tuyệt” Tôi nói với một nụ cười hờ hững “ Cảm ơn ông đã quan tâm, đúng là một bữa tiệc tuyệt vời.”

“ Nhưng hình như cậu lại đứng nhầm chỗ ấy nhỉ?”

Tôi ngập ngừng, rồi tiếp tục cười “Vâng, có lẽ là tôi hơi sai chỗ thưa ông.”

Người đàn ông tóc bạc quay sang nhìn tôi kỹ càng. Ông nói: “ Tôi có thể nói cho cậu biết vài người trong số này là ai. Nếu cậu thật sự muốn bắt chuyện với ai trong số này, tôi còn có thể dẫn cậu tới và giới thiệu cậu cho họ. Cậu muốn như thế nào?”

“ Thế thì tốt quá, thật là quá tốt.”

“Tốt.”

Ông ta bước lại gần và quan sát những ai trong tầm mắt của chúng tôi. Ông nghiêng lại gần tôi và chỉ ra người này người nọ. Mặc cho những cái tên vô cùng sáng giá, ông vẫn nhớ chêm vào những nhận định có lợi cho tôi như “Tay tài chính”, “ Nhà soạn nhạc”, hay một cái gì đó nữa. Với những người ít nổi tiếng, ông chỉ tóm tắt các chi tiết về nghề nghiệp và lý do vì sao họ quan trọng. Tôi tin rằng chúng tôi đang nói dở chuyện của một tay nhân viên văn phòng đứng gần ông, ông bất ngờ chuyển hướng và nói.

“ À, tôi thấy đầu óc của cậu trôi đi đâu rồi.”

“Thành thật xin lỗi…”

“ Không sao đâu. Điều này hoàn toàn tự nhiên. Dù sao đi nữa, các cậu trẻ như cậu cũng không khác gì.”

“ Tôi cam đoan với ông, thưa ông…”

“ Cần gì mà phải xin lỗi.” Ông ta cười rồi hích tay tôi. “Cô nàng xinh nhỉ?”

Tôi không biết phải hồi đáp ông thế nào. Tôi thật khó mà phủ nhận rằng tôi đã bị sao nhãng bởi một cô gái trẻ vài mét ở mé trái của tôi, cô đang nói chuyện với hai ông trung niên. Nhưng ngay lúc đó, ngay cái lần đầu tiên tôi thấy cô, tôi lại không thấy cô xinh đẹp một chút nào. Tôi có chút linh tính rằng ngay lần đầu thấy cô, tôi đã nhận ra những phẩm chất của cô mà mãi sau này tôi mới rõ là những phần nổi bật của cô. Tôi chỉ thấy một cô nàng trẻ tuổi nhỏ thó như một con yêu tinh với mái tóc sẫm màu ngang vai. Mặc dù cô đang cố quyến rũ người đàn ông cô nói chuyện lúc ấy, tôi có thể thấy nụ cười của cô một khắc nào đó có thể trở thành cái nhếch mép. Cô khom nhẹ đôi bờ vai như một loài chim săn mồi, nó làm cho hình dáng của cô như toát lên một sự toan tính. Trên hết, tôi thấy xung quanh đôi mắt của cô có một sự nghiêm khắc và thiếu độ lượng. Giờ tôi   mới thấy được, chính điều ấy khiến tôi phải mê mẩn nhìn chằm chằm lấy cô vào chiều hôm ấy.

Cả hai chúng tôi vẫn còn dán mắt vào cô, cô nhìn lại chúng tôi, cô nhoẻn miệng cười lạnh lùng khi nhận ra người đứng cạnh tôi. Ông tóc bạc cuối đầu chào cô một cách trang trọng.

“Quả là một cô nàng duyên dáng” ông lẩm bẩm và dẫn tôi ra chỗ khác “ Nhưng không có lý do gì mà một chàng trai như cậu đây lại tốn thời gian theo cô nàng làm gì. Tôi không có ý xúc phạm, cậu dường như là một người đàng hoàng nhưng cậu biết đấy, đó là cô Hemmings, Sarah Hemmings.

Cái tên đó chẳng có nghĩa lý gì với tôi. Nhưng ông quá tường tận khi nói về các vị khách ông từng đề cập, ông thốt ra cái tên của cô nàng như một người mà tôi phải biết. Thế nên tôi gật đầu và nói:

“Thế à, thế đây chính là cô Hemming đây à.”

Người đàn ông ngừng lại để thăm dò toàn bộ căn phòng từ một chỗ quan sát mới.

“Để xem nào, tôi đoán rằng cậu tìm người nào có thể giúp cậu đổi đời phải không? Cậu yên tâm, lúc tôi bằng tuổi cậu, tôi cũng làm như vậy. Xem thử xem, ở đây chúng ta có những ai nào.

Ông quay lưng về hướng tôi đột ngột hỏi: “Cậu nói lại cho tôi với, cậu nói cậu muốn làm gì ấy nhỉ?”

Tất nhiên là tôi chưa từng nói gì với ông. Ngay lúc ấy, sau một hồi do dự thì tôi chỉ nói rằng:

“ Thám tử, thưa ông.”

“Thám tử hả? Hmm.” Ông tiếp tục lướt qua quanh phòng. “ Ý cậu là … cảnh sát?”

“ Giống như những người cố vấn tư.”

Ông gật “Đương nhiên rồi, đương nhiên phải như vậy rồi.”. Ông nghĩ ngợi sâu xa trong lúc rít xì gà. Sau ông nói: “Cậu có khi nào hứng thú với cái nghiệp bảo tàng không nhỉ? Cậu trai đằng kia kìa, tôi biết cậu ta cả năm rồi. Bảo tàng. Mấy cái sọ, mấy cái đồ cổ, mấy thứ tương tự vậy đó. Không hứng thú sao? Tôi cũng nghĩ vậy.” Ông ta cứ nhìn hết chỗ này chỗ kia trong phòng, thỉnh thoảng ngoẹo cổ để nhìn người này người nọ. Một lúc sau thì ông nói “Không ít cậu trẻ đều muốn trở thành thám tử. Tôi dám nói ngay cả tôi cũng từng nghĩ đến trong những ngày tháng mộng mơ trước đây, hẳn ai thì cũng lý tưởng khi trẻ trung như cậu. Ao ước được thành đại thám tử của thời đại. Để một tay đánh bật mọi gốc rễ ác quỷ trên mặt đất này. Khá khen. Nhưng mà, tôi nói cậu này, tốt hơn là vẫn để ít trứng ở những rổ khác. Bởi vì một hai năm tới có khi cậu sẽ thấy mọi chuyện khác hẳn, tôi không có ý xúc phạm đến cậu đâu nhé. Mà cậu có thích thú với trang trí nội thất không nhỉ? Tôi hỏi vì cái cậu đứng kia chính là Hamish Robertson đấy.”

“ Tôi cũng không có ý bất kính, thưa ông. Nhưng tham vọng mà tôi vừa thổ lộ với ông không phải một sớm một chiều. Đó là tiếng gọi của cả cuộc đời tôi.”

“Cả cuộc đời ư? Cậu bao tuổi rồi? Hai mốt? Hai hai? À, đáng lẽ tôi không nên làm cậu nản lòng. Rốt cuộc rồi thì nếu lớp thanh niên các cậu không theo đuổi những hành động lý tưởng này thì còn ai mà theo nữa? Và không nghi ngờ gì nữa, con trai à, cậu tin rằng thế giới này quá tàn độc so với ba mươi năm trước phải không? Văn minh loài người đang trên bờ sụp đổ, đại loại những thứ như thế phải không?

“ Thật sự là như vậy, thưa ông,” Tôi nói dứt khoát “Tôi tin đó là sự thật”

“Tôi nhớ khi tôi cũng từng nghĩ như vậy.” Bỗng nhiên, cái giọng điệu mỉa mai trở nên chân tình hơn. Thậm chí, tôi còn thấy mắt ông ương ướt. “ Vì sao vậy, cậu nghĩ vì sao vậy, con trai? Thế giới này có thật tàn độc hơn không? Hay đây là sự thoái hóa của cái giống vượn người kia?”

“Tôi không biết, thưa ông” Tôi trả lời, nhưng nhẹ nhàng hơn. “Tôi chỉ có thể nói một cách khách quan như một người ngoài, nhưng thủ phạm thời nay ngày càng thông minh. Chúng ngày càng háo danh, ngày càng liều lĩnh, và công nghệ khoa học hiện đại đã tiếp tay cho chúng với những công cụ tinh xảo.”

“À, ra vậy, và nếu chúng ta không có những chàng trai tài năng như cậu, tương lai mù mờ quá phải không?” Ông ta sầu não lắc đầu “Cậu có lý đấy, những lão già như tôi lại bỡn cợt với mọi việc một cách dễ dàng. Có lẽ cậu đúng rồi, con trai ạ. Có lẽ chúng ta đã ngó lơ quá lâu rồi. A.”

Ông lão tóc bạc lại nghiêng đầu khi Sarah Hemmings lướt ngang qua chúng tôi. Cô ta bước qua đám đông với một vẻ kiêu hãnh ma mị, cô nhìn ngang nhìn dọc dường như đang tìm kiếm ai đó xứng đáng với sự hiện diện của mình. Cô để mắt đến ông bạn tôi, cô chỉ ban cho ông một nụ cười hời hợt như trước nhưng lại không hề khựng lại. Trong tíc tắc, ánh nhìn của cô dừng lại chỗ tôi, gần như ngay lập tức, trước khi tôi kịp cười đáp, cô ta đã gạt tôi ra khỏi suy nghĩ và đi lại người khác mà cô phát hiện ở phía đối diện. 

Tối khuya hôm ấy, khi chiếc xe chở Osbourne và tôi lao về Kensington, tôi cố gắng tìm hiểu thêm những vấn đề liên quan đến Sarah Hemmings. Tuy Osbourne cứ giả vờ buổi tiệc này nhàm chán nhưng vẫn hài lòng với chính mình, anh háo hức thuật lại từng chi tiết trong các cuộc hội thoại giữa anh và những người quyền thế. Khó khăn lắm tôi mới đưa câu chuyện về cô Hemmings mà không tỏ ra tò mò quá mức. Đến một lúc, tôi cũng buộc anh phải nói:

“ Cô Hemmings nào? Ồ, cô Hemmings đấy à. Cô ta từng đính hôn với Herriot Lewis. Chắc cậu biết anh ấy, tay nhạc trưởng ấy. Hắn chỉ huy cái buổi hòa nhạc của Schubert ở Sảnh Albert mùa thu năm ngoái. Cậu có nhớ vụ bê bối ấy không?

Khi tôi thú nhận là mình không biết gì về việc đó. Osbourne tiếp tục:

“Chưa đến mức khán giả phải ném ghế nhưng tôi đinh ninh là họ sẽ làm vậy nếu mấy cái ghế đó không bị đóng dính xuống sàn. Tay phóng viên của The Time diễn tả buổi trình diễn như một trò “ lố lăng toàn tập.” hay hắn nói là “sự xúc phạm” nhỉ? Mà thật ra thì anh ta chẳng quan tâm mấy.”

“Nhưng cô Hemmings thì…”

“Tiễn anh ta lên đường ngay chứ sao nữa. Hình như còn ném trả nhẫn cưới. Cô ta còn né xa anh ta từ lúc đó.”

“ Tất cả là do một buổi hòa nhạc?”

 “ Thì, nghe nói nó cũng kinh khủng. Gây xôn xao cả một dạo. Ý tôi là  chuyện cô ta hủy hôn đấy. Nhưng hôm nay chán chết cậu Banks à. Cậu có nghĩ khi chúng ta già đi, chúng ta cũng sẽ thành ra như bọn họ không?

Suốt năm đầu tiên sau khi tôi rời khỏi Cambridge, nhờ làm bạn với Osbourne, tôi nhận thấy mình tham gia những sự kiện của giới tinh hoa. Nhớ lại lúc đó trong cuộc đời tôi, quả thật là một khoản thời gian phù phiếm. Những buổi tiệc khuya, ăn trưa, tiệc cocktail thường được tổ chức trong các căn hộ quanh Bloomsbury và Holborn. Tôi quyết bỏ lại sau lưng sự lúng túng mà tôi bộc lộ vào buổi tối tại Charingworth, cách ứng xử của tôi tại các buổi tiệc như thế này ngày càng lịch thiệp hơn. Thật không quá khi nói rằng tôi đã trở thành một phần của giới thời thượng London. 

Cô Hemmings lại không thuộc cái giới này cùng tôi, nhưng mỗi khi tôi nhắc tới tên cô thì ai cũng biết. Thỉnh thoảng tôi bắt gặp cô tại các buổi tiệc, thường xuyên hơn là ở những phòng trà tại những khách sạn sang trọng. Bằng cách này hay cách khác, tôi cũng dần dần có khá nhiều thông tin về sự nghiệp của cô trong xã hội London.

Quả thật tôi cũng lạ lùng khi nhớ lại rằng những gì tôi biết về cô đều do người khác kể lại. Không cần quá lâu để biết rằng có quá nhiều người không mấy thiện cảm với cô. Ngay cả trước khi hủy hôn với Anthony Herriot Lewis, hình như cô đã có khá nhiều kẻ thù do họ không chấp nhận được sự thẳng thắn của cô. Bạn của Herriot Lewis kể lại rằng cô đã từng săn đón chàng nhạc trưởng ráo riết như thế nào, khách quan mà nói thì lời của họ không đáng tin ngay lúc này. Người khác còn vu cho cô đã thao túng bạn của Herriot Lewis để tiếp cận anh. Việc sau này cô bỏ chàng nhạc trưởng sau tất cả những nỗ lực quyết liệt trước đó được xem là khó hiểu với một số người, những người khác chỉ xem đây là bằng chứng rõ ràng về những động cơ bất chính của cô. Mặt khác, tôi cũng gặp một số người nói tốt cho cô. Cô thường được nói là “thông minh”, “mê hoặc”, hay “không hề đơn giản”. Cánh phụ nữ thì luôn biện minh cho việc hủy hôn vì bất kỳ lý do gì. Nhưng chính những người biện hộ cho cô cũng cho rằng cô là một kẻ “trưởng giả học làm sang”; rằng cô chỉ coi trọng những người có tên tuổi mà thôi.Tôi phải nói rằng trong khi quan sát cô từ xa, tôi không có một chút gì để chống lại những nhận định đó. Thậm chí, tôi nhiều lúc có suy nghĩ rằng cô ta chỉ có thể thở chung một bầu không khí với những nhân vật danh giá nhất. Có lúc cô dính dáng tới tay pha chế Henry Quinn, nhưng lại quay lưng với hắn sau vụ Charles Browning. Sau đó có ai đồn rằng cô bỗng thân thiết với cậu James Beacon, một quan chức chính quyền mới nổi. Dù sao đi nữa, lúc này đã quá rõ vì sao ông bạn già tóc bạc nói rằng “người như tôi” không có cửa theo đuổi cô Hemmings. Đương nhiên là tôi không hiểu khi ông nói điều đó với tôi. Khi biết rồi, tôi lại hứng thú theo dõi từng hành động một của cô Hemmings trong cả năm đó. Mặc dù vậy đó, tôi lại không hề nói gì với cô cho đến một buổi chiều hai năm kể từ lần đầu tôi gặp cô ở câu lạc bộ Charingworth.

Tôi đang cùng người quen ngồi uống trà tại tại khách sạn Waldorf thì anh ấy có việc gấp phải đi. Thành thử tôi ngồi một mình tại tầng dưới khu Palm Court, nhâm chi món bánh scone với mứt, khi đó tôi chú ý rằng cô Hemmings, cũng đang ngồi một mình, ở khu trên ngoài ban công. Tôi có nói trước đây, đây hẳn không phải lần đầu tôi thấy cô ở những chỗ như thế này, nhưng lần này lại khác. Lúc ấy thì vụ Mannering vừa mới kết thúc chưa đầy một tháng và tôi vẫn còn lâng lâng. Quả thật, khoảng thời gian sau thành công đầu tiên của tôi trước công chúng là lúc đầy men say: bỗng nhiên bao nhiêu cánh cửa mở ra trước mắt tôi; những lời mời gọi đổ dồn về từ những mối quan hệ mới; những người trước đây chỉ tỏ ra bình thường với tôi nay lại reo hò hào hứng khi tôi vừa bước vào. Chẳng có gì lạ nếu tôi tự mãn đôi chút.

Buổi chiều đó tại Waldorf, tôi nhận ra mình đã đứng dậy và đi lên ban công. Tôi không biết mình nghĩ gì. Đó lại là một biểu hiện của sự tự mãn mà tôi hay cảm thấy trong khoảng thời gian này, tôi không dừng lại để tự hỏi liệu rằng cô Hemmings có vui lòng làm quen với tôi hay không. Có một thoáng ngờ vực lướt qua trong suy nghĩ của tôi khi tôi đi ngang người đánh piano để đến chỗ bàn cô đang đọc sách. Nhưng tôi cũng hài lòng với cái âm điệu mà tôi nói với cô, tôi nói một cách lịch thiệp và hóm hỉnh:

“Xin cô thứ lỗi, nhưng tôi nghĩ đã đến lúc tôi tự giới thiệu mình với cô. Chúng ta có chung không ít mối quen biết. Tôi là Christopher Banks.”

Tôi phát âm tên của mình một cách trang trọng, nhưng sự tự tin của tôi lúc này đã bay đi đâu mất. Cô Hemming chỉ ngước lên nhìn tôi với một ánh mắt lạnh lùng dò xét. Cô nhanh chóng nhìn về lại những trang sách, như thể nó phát ra một tiếng than rền rĩ. Rồi cô cũng nói với một sự bối rối khó hiểu:

“À, vâng? Cậu khỏe không?”

“ Vụ Mannering,” tôi nói với vẻ xuẩn ngốc. “Hẳn cô phải thấy nó trên mặt báo.”

“ Vâng. Ra là cậu đã điều tra vụ này.”

Chính câu nói đó, câu nói đã được nói ra một cách hoàn toàn tự nhiên làm tôi muốn ngã ngửa. Chính cái cách nói không hề mang bất kỳ một sắc thái bất ngờ chợt nhận ra nào đấy; lời phát biểu ngang phè đó ngụ ý rằng cô đã biết tôi là ai nhưng cô không hiểu vì lý do gì tôi lại xuất hiện tại bàn cô. Bỗng dưng tôi cảm thấy cái men say hân hoan choáng ngợp mấy tuần qua bốc hơi hết. Tôi tin rằng ngay lúc đó, tôi đã buột miệng cười gượng gạo, tôi chợt nhận ra việc phá vụ án Mannering, sự xuất sắc hiển nhiên trong điều tra của tôi, những lời khen ngợi từ bạn bè, lại không có tí ý nghĩa quan trọng nào như tôi từng nghĩ trong cái thế giới rộng lớn này.

Có thể chúng tôi đã có vài câu đối thoại lịch sự trước khi tôi kịp trốn về bàn mình. Cô Hemmings hoàn toàn có lý khi đáp trả tôi như vậy; thật nực cười khi tôi nghĩ rằng một vụ như vụ Mannering lại đủ để gây ấn tượng với cô ấy. Nhưng nhớ lại, khi tôi ngồi xuống chỗ mình, tôi thấy mình vừa tức tối vừa hụt hẫng. Tôi chợt nghĩ mình không chỉ vừa làm trò hề trước mặt cô Hemming, mà tôi đã làm như vậy cả tháng nay; những lời ca tụng của đám bạn, thật ra là những tiếng cười nhạo tôi.

Ngày hôm sau, tôi chấp nhận rằng tôi hoàn toàn xứng đáng nhận lấy sự xấu hổ đấy. Nhưng chính sự việc tại Waldorf đã thắp lên trong tôi một sự oán hận mà tôi không bao giờ gạt bỏ được đối với cô Hemmings. Và điều đó chắc chắn đã góp phần vào cái sự việc đáng tiếc chiều hôm qua. Lúc đó, tôi cố xem toàn bộ sự việc là lỗi của định mệnh. Sau tất cả, điều đó như làm tôi thức tỉnh vì con người có thể dễ dàng bị cuốn đi khỏi cái ý định mà họ trân trọng nhất đến nhường nào. Cái ý định đối đầu với cái ác, cái ác ngấm ngầm lẩn khuất, và việc đó chẳng liên quan gì đến việc trở nên nổi tiếng trong các tầng lớp xã hội.

Tôi bắt đầu giao tiếp ít lại để tập trung toàn bộ tâm trí vào công việc. Tôi học từ những vụ án nổi tiếng đã diễn ra, cũng như thấm nhuần các tri thức trong các lĩnh vực mới mẻ có thể hữu dụng với tôi một ngày nào đó. Khoản thời gian này, tôi bắt đầu xem xét kỹ lưỡng sự nghiệp của các thám tử danh giá, tôi có thể nhận ra cái ranh giới giữa những ai nổi tiếng dựa trên những thành tựu vững chắc, và những ai chỉ có tiếng mà không có miếng trong một số hội nhóm quyền lực. Thành thử, tôi nhận ra đâu là con đường chân chính và đâu là cách giả tạo để một thám tử có được danh tiếng. Tóm lại, mặc dù tôi rất phấn khởi vì những mối quan hệ kết nối với tôi từ vụ Mannering, thì sau vụ đụng độ ở Waldorf, tôi nhớ lại tấm gương mà cha mẹ tôi để lại, và tôi cương quyết không để những bận tâm phù phiếm làm tôi chệch hướng.

Chú thích

Bản dịch tiếng Việt “Khi ta còn mồ côi” được thực hiện từ tác phẩm “When we were orphans” của Kazuo Ishiguro, nhằm mục đích nghiên cứu, trao đổi và thảo luận về văn học và dịch thuật, không nhằm thay thế bản gốc hoặc bản dịch được cấp phép chính thức.

Quyền tác giả đối với tác phẩm gốc thuộc về tác giả hoặc các chủ thể quyền liên quan. Người dịch không sở hữu bất kỳ quyền nào đối với tác phẩm gốc ngoài phần đóng góp sáng tạo của mình trong bản dịch trong phạm vi pháp luật cho phép.

Tại thời điểm đăng tải, bản dịch này chưa được cấp phép quyền dịch và công bố từ chủ thể quyền của tác phẩm gốc. Việc đăng tải được thực hiện với mục đích nghiên cứu, bình luận và trao đổi học thuật, không nhằm mục đích thương mại.

Mọi trích dẫn, sử dụng hoặc chia sẻ lại bản dịch cần ghi rõ tác phẩm gốc, tác giả và người dịch. Nếu chủ thể quyền hoặc đại diện hợp pháp của tác phẩm có yêu cầu liên quan đến quyền tác giả, vui lòng liên hệ với chúng tôi để trao đổi và xử lý phù hợp.

Chưa có bình luận.

Bình luận bài viết (0)